• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 8: Phát triển tuệ giác một cách tự nhiên

February 6, 2013

Chương 8

Phát triển tuệ giác một cách tự nhiên

Buổi pháp đàm tại Pnompenh (Phần 2)

Khun Sujin: Không có phương pháp cụ thể nào cần phải được theo đuổi để phát triển Tứ niệm xứ. Hiểu biết có được nhờ việc nghe đã được tích lũy từ trước tạo duyên cho chánh niệm hay biết các đặc tính của thực tại đang xuất hiện bây giờ. Hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày có thể được phát triển. Không nhất thiết phải hỏi nên theo đuổi phương pháp thực hành nào. Nếu tại thời điểm này không có sự hiểu biết thì vẫn cần tiếp tục lắng nghe Giáo pháp thêm nữa để có thêm hiểu biết. Bằng cách ấy mọi người sẽ biết giây phút nào có chánh niệm và giây phút nào không có chánh niệm. Nếu một người nghĩ đến việc thực hành trong tương lai thì có nghĩa là không có chánh niệm. Thực tại đã xuất hiện rồi nhưng người ấy không nhận ra. Thật là vô ích khi nghĩ về tương lai vẫn còn chưa tới. Nếu ai đó nghĩ rằng người ấy sẽ thực hành trong tương lai, người ấy không biết rằng tại khoảnh khắc này có thực tại cần phải được hiểu. Sẽ không ích lợi gì khi băn khoăn rằng chúng ta phải làm gì, chúng ta phải thực hành như thế nào. Chánh niệm có thể hay biết về cái thấy tại thời điểm hiện tại, cái là thực, hoặc hay biết về cái nghe tại thời điểm hiện tại, cái là thực. Nó có thể hay biết thực tại như cứng hoặc mềm được kinh nghiệm do sự xúc chạm, về sự suy nghĩ, về cảm giác hạnh phúc, bất hạnh hay cảm thọ trung tính, cảm thọ khổ hay lạc trên thân. Tất cả những hiện tượng này đều là thực và đều có thể là đối tượng của chánh niệm.

Chúng ta không cần phải trì hoãn sự phát triển của hiểu biết, chúng ta không nên tin rằng chúng ta phải làm cái gì đó đặc biệt trước đã. Tại thời điểm này có cái thấy đang kinh nghiệm cái sinh khởi qua nhãn căn. Có thể có chánh niệm về cái thấy. Đặc tính của cái thấy là danh, yếu tố kinh nghiệm đối tượng. Chúng ta có thể thấy, chúng ta khác với một người chết mặc dù vẫn có mắt nhưng không thể thấy, không thể nhận ra cái bàn hay cái ghế. Chúng ta có thể thấy chừng nào chúng ta vẫn còn sống và chúng ta chưa bị mù. Vào thời điểm này có cái thấy và đó chỉ là một khoảnh khắc của tâm. Không ai có thể tạo ra cái thấy, nó sinh khởi bởi các duyên tướng ứng của nó. Tâm là cái thấy khác với tâm là cái nghe. Chúng ta cần phải nhớ rằng có những thực tại khác nhau. Dần dần chúng ta có thể hiểu được các đặc tính của tâm là cái thấy ở giây phút hiện tại. Trí tuệ chưa thể nào rõ ràng lúc khởi đầu. Nếu như ai đó băn khoăn liệu có vô minh hay không, câu trả lời là vô minh không biết cái thấy chỉ là cái thấy khi nó đang xuất hiện, rằng nó không biết về bản chất thật của cái đang sinh khởi hiện giờ. Trí tuệ là sự đối nghịch của vô minh; trí tuệ hiểu các thực tại, trong khi ấy vô minh thì không biết gì cả.

Cái thấy sinh khởi bởi những nhân duyên thích hợp của nó. Khi chánh niệm hay biết về cái thấy thì tại thời điểm ấy, trí tuệ có thể hiểu bản chất của nó, nó có thể hiểu rằng đó là một loại thực tại. Chánh niệm và trí tuệ sinh và diệt cùng nhau rất nhanh chóng. Nó chỉ sinh khởi khi có nhân duyên cho chúng sinh khởi. Không ai có thể cố tạo ra sự sinh khởi của chúng, nhưng chúng có thể được phát triển một cách từ từ. Sự phát triển của chúng cần một thời gian rất dài. Khi chánh niệm mới sinh khởi, không ai có thể có ngay được sự hiểu biết rõ ràng về thực tại.

Để có thể đạt được quả vị Phật, Đức Phật đã phải bồi bổ “ba la mật” từ khi Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ngài trở thành vị Phật tương lai, Ngài đã phải tích lũy những ba la mật ấy trong bốn a tăng tì kiếp và một trăm ngàn đại kiếp. Ngài Ananda cũng đã phải tích lũy các ba la mật trong một trăm ngàn đại kiếp. Vậy, tại sao mọi người lại hỏi, họ cần phải thực hành như thế nào? Nếu ai đó hỏi những câu hỏi như vậy, điều ấy chỉ ra rằng người ấy đang muốn hiểu ngay lập tức thực tại đang sinh khởi ở thời điểm hiện giờ, tuy nhiên điều ấy là không thể.

Người phát triển Bát chánh đạo cần phải tự biết, người ấy cần phải chân thành với chính mình. Tại thời điểm có sự vô minh, người ấy không hiểu thực tại và tại thời điểm có chánh niệm sinh khởi, người ấy có thể hay biết rằng có chánh niệm hay không. Khi chánh niệm sinh khởi, nó hay biết thực tại sinh khởi tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày. Tại thời điểm này, cái thấy đang sinh khởi tự nhiên. Chúng ta có thể thẩm sát một cách đúng đắn cái thấy là gì, chúng ta có thể hiểu rằng đó chỉ là một loại thực tại. Ở khoảnh khắc đó có chánh niệm sinh khởi cùng với cái hiểu mang tính lý thuyết. Khi có cái hiểu trực tiếp về đặc tính của cái thấy là danh thì khi đó được gọi là Tứ niệm xứ. Ở những khoảnh khắc ấy, có hiểu biết về đặc tính của thực tại như chúng là, nhưng vẫn chưa có được cái hiểu thấu đáo và rõ ràng ngay lập tức. Trí tuệ cần phải được phát triển dần dần. Những người phát triển hiểu biết không có chút nghi ngờ gì về việc nếu chánh niệm không sinh khởi và không hay biết về đặc tính của thực tại, trí tuệ sẽ không thể phát triển và như vậy đặc tính của thực tại không thể được hiểu một cách rõ ràng. Vì thế, người ấy cần phải phát triển Tứ niệm xứ một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày của mình. Người ấy nhận ra rằng có những giây phút mà chánh niệm có thể hay biết về thực tại, và rằng cũng có những khoảnh khắc chánh niệm không sinh khởi, nhưng người ấy không có mong muốn cố tạo nên sự sinh khởi của chánh niệm. Người ấy biết rằng chánh niệm không sinh khởi bởi vì chúng ta mong muốn có nó. Mỗi một nguyên nhân đều mang đến một kết quả tương ứng. Nếu ai đó muốn tác ý làm thiện pháp thì người ấy cần phải bắt đầu tại giây phút này. Nếu người ấy không muốn sân hận, ngay thời điểm này người ấy cần phải bớt xu hướng giận dữ. Thiện pháp cần phải được phát triển chứ không sinh khởi theo sự mong muốn của ta. Nếu một người muốn phát triển trí tuệ thì người ấy cần phải hay biết đặc tính của thực tại một cách tự nhiên, và không thể có ý niệm về “tôi” hay cái ngã đang hay biết. Khi chánh niệm sinh khởi và hay biết về các thực tại, chúng ta có thể thấy đã có chánh niệm và không cần thiết phải làm điều gì đặc biệt để có được chánh niệm. Không có gì khác cần phải làm ngoại trừ dần dần phát triển hiểu biết về đặc tính của các thực tại.

Ai đó có thể cảm thấy thỏa mãn với hiểu biết của mình hay với sự sinh khởi của chánh niệm, nhưng khi ấy sẽ có sự dính mắc và người ấy cần phải từ bỏ sự dính mắc ấy. Chúng ta không nên hy vọng có sự sinh khởi của chánh niệm trong tương lai cũng như không nên dính mắc vào chánh niệm đã sinh khởi rồi, đó là sự thực hành sai lầm. Con đường đúng đắn của sự thực hành là phát triển hay biết về các thực tại khi chúng xuất hiện một cách tự nhiên. Khi có sự thực hành đúng đắn thì sẽ không có sự dính mắc hay sân hận với thực tại đang sinh khởi, bởi vì thực tại đó không phải là “ta”, của ta hay ngã. Không phải chỉ trong cuộc đời này mới có sự dính mắc vào khái niệm về “ta” hay ngã, mà trong vô vàn kiếp sống đã có sự dính mắc ấy. Làm sao hôm nay chúng ta có được ngay lập tức cái hiểu rõ ràng các đặc tính của danh và sắc? Nếu như vẫn chưa được nghe nhiều về Giáo pháp và có sự suy xét đầy đủ về Giáo pháp thì không thể có được tuệ giác về sự sinh và diệt của một thực tại khi có sự hay biết về thực tại ấy. Mỗi khi Đức Phật giảng Pháp thì có rất nhiều người xuyên thấu được Tứ Thánh Đế, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả những người nghe đều có thể đạt giác ngộ. Những người đã đạt được giác ngộ ở mức độ của vị A la hán ít hơn số người đạt được giác ngộ ở mức độ của vị thánh Bất lai, cũng như vậy, số người trở thành thánh Bất lai thì ít hơn số người đạt được quả vị Nhất lai, tầng thánh thứ hai. Và những vị Thánh Nhất lai cũng ít hơn số người đạt được giai đoạn thứ nhất của giác ngộ, vị Thánh Dự lưu. Những người đã trở thành vị Thánh Dự lưu thì cũng ít hơn số người không đạt được bất kỳ tầng giác ngộ nào. Nghe và suy xét về Pháp không bao giờ đủ. Tất cả mọi người cần phải tiếp tục nghe Pháp và suy xét về những gì đã được nghe.

Khi ta đọc những câu chuyện về các kiếp quá khứ của các vị đệ tử của Đức Phật, chúng ta thấy rằng có những người, mặc dù đã nghiên cứu toàn bộ Tam tạng và chú giải, vẫn chưa xuyên thấu được Tứ Thánh Đế. Vì thế, sẽ vô ích nếu tự hỏi khi nào thì mình sẽ hiểu được thực tại. Bên cạnh đó, mọi người không nên hỏi người khác liệu họ sẽ có được cái hiểu đúng sau một thời gian dài phát triển hay chỉ trong một thời gian ngắn mà thôi. Mỗi một người cần phải tự biết tại thời điểm này, chánh niệm có hay biết thực tại đang sinh khởi hay không. Mọi người cần phải tự mình biết sự thực, và người ấy cần phải chân thành với sự phát triển của riêng mình. Con đường duy nhất cần phải theo đuổi là phát triển hiểu biết từng chút từng chút một.

        Buth Sawong: Liên quan đến việc thực hành Giáo pháp, mọi người đã nghe Pháp thấy rằng thực tại sinh và diệt quá nhanh. Họ nói rằng, vì vậy họ không thể hiểu chúng một cách rõ ràng. Dường như họ vẫn thấy chúng sinh và con người, chứ không phải là các đối tượng thị giác, vì các thực tại khác nhau sinh và diệt quá nhanh. Họ cảm thấy rằng họ không đủ nhanh để có thể hiểu được các thực tại khác nhau.

        Khun Sujin: Họ không đủ nhanh để hiểu các thực tại hay là họ không hiểu chúng chút nào cả?

        Buth Sawong: Họ biết về các thực tại ấy như là chúng sinh, con người và ngã.

        Khun Sujin: Có phải vấn đề là ở chỗ quá chậm để hiểu thực tại hay đơn giản chỉ là không hiểu các thực tại chút nào?

        Buth Sawong: Quả thực, họ không hiểu các thực tại chút nào chứ không phải là vấn đề quá chậm để bắt được thực tại ấy.

        Khun Sujin: Đúng như vậy. Tại thời điểm này các thực tại đang sinh khởi với tất cả chúng ta vì chúng ta đang thức. Có cái thấy, nhưng liệu có hiểu biết biết rằng cái thấy chỉ là một thực tại kinh nghiệm một cái gì đó, rằng không có một cái tôi nào đang thấy hay không? Cái được kinh nghiệm qua mắt là đối tượng thị giác đang sinh khởi. Hiện giờ đã có hiểu biết hay chưa? Chúng ta không nên tìm cái đang sinh khởi qua mắt vì nó đã ở đó rồi. Tại giây phút này thực tại đang sinh khởi nhưng chúng vẫn chưa được biết như chúng là. Tuy nhiên, điều này không phải là do quá chậm để có thể nắm bắt chúng. Vì vậy mọi người không nên nói rằng họ quá chậm để có thể hiểu pháp; họ chỉ có được cái hiểu về mặt lý thuyết rằng sự thực các thực tại đang sinh và diệt rất nhanh. Tại thời điểm này, thực tại đang sinh và diệt, và không có ích gì khi nghĩ rằng ta quá chậm để nhận ra điều ấy. Chỉ có trí tuệ đã được phát triển thì mới có thể chứng ngộ được sự thực về vô thường. Cái đã diệt thì đã diệt rồi, không ai có thể thay đổi sự thực ấy. Trong lúc người nào đó nghĩ rằng họ quá chậm để nhận ra được sự diệt đi của thực tại thì thực tại đã sinh và diệt rồi. Cách duy nhất cần phải theo đuổi là phải phát triển hiểu biết về các đặc tính của những gì xuất hiện tại thời điểm hiện giờ, và không nên trì hoãn. Đó là cách để kiểm tra sự hiểu biết riêng của mình, để tìm ra rằng liệu đã có hiểu biết về đặc tính thực sự của các thực tại hay chưa. Nếu ai đó dần dần có thêm hiểu biết về các thực tại, điều ấy có nghĩa rằng trí tuệ đang phát triển.

Liệu chúng ta có muốn đạt được giác ngộ mà không cần biết đặc tính của các thực tại đang sinh khởi tại giây phút này như chúng là hay không? Điều ấy là không thể. Chừng nào ai đó vẫn chưa xuyên thấu được sự thực về các thực tại đang sinh khởi hiện giờ, người ấy không nên tin tưởng rằng người ấy sẽ chứng ngộ được Tứ Thánh Đế, rằng người ấy sẽ đạt được Niết bàn. Tất cả mọi người đều có thể nhắc lại Giáo lý mà mình đã được nghe, người ấy có thể nhắc đi nhắc lại rằng các thực tại sinh khởi bởi nhân duyên, rằng các thực tại đã sinh có thể được kinh nghiệm. Tuy nhiên, tại giây phút này thì có cảm giác cứng qua xúc chạm, liệu mọi người có được hiểu biết trực tiếp về sự thực này, tức là về tính cứng đang được kinh nghiệm nhờ sự xúc chạm, xuất hiện bởi vì nó đã sinh khởi hay không? Rằng nếu tính cứng không sinh khởi thì nó sẽ không được kinh nghiệm bởi sự xúc chạm. Tất cả mọi người đều chạm vào cái này hay cái khác và nếu chánh niệm không sinh khởi, mọi người sẽ nghĩ rằng đó là cái bàn hay một cái tay đang kinh nghiệm sự xúc chạm. Nhưng khi chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết đặc tính của tính cứng, nhưng điều ấy không có nghĩa rằng trí tuệ có thể xuyên thấu được bản chất thực của thực tại ngay lập tức. Chúng ta cần phải nhớ những lời dạy của Đức Phật mà chúng ta đã đọc trong kinh điển, về việc thường xuyên chánh niệm, luôn luôn và luôn luộn. Chỉ khi có chánh niệm thường xuyên thì nó mới có thể hiểu được rằng tính cứng chỉ là một loại sắc, khác với thực tại kinh nghiệm tính cứng là danh. Khi đã thường xuyên có chánh niệm về đặc tính của danh và sắc, trí tuệ có thể trở nên sắc bén hơn và đạt được đến mức độ của tuệ vipassana và vào thời điểm ấy thì thực tại xuất hiện như chúng thực là. Tuy nhiên điều đấy không có nghĩa là sự sinh và diệt của các thực tại có thể được xuyên thấu một cách ngay lập tức. Trong quá trình phát triển của trí tuệ có nhiều giai đoạn của tuệ giác, và sự sinh diệt của thực tại thì không được liễu ngộ ngay tại tuệ giác thứ nhất, mà mãi về sau. Khi một người cho rằng người ấy có thể ngay lập tức thấy được sự sinh diệt của các thực tại thì người ấy đang đi con đường phi đạo. Người ấy không nên nghĩ đến việc có đủ thời gian để “nắm bắt” được sự sinh diệt của thực tại. Người ấy cần phải bắt đầu hiểu biết các đặc tính của loại thực tại đang kinh nghiệm cái gì đó, về danh và về đặc tính của loại thực tại không kinh nghiệm gì cả, về sắc. Người ấy cần phải bắt đầu hay biết về các thực tại xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chỉ có sáu cánh cửa giác quan mà qua đó thực tại xuất hiện, nhưng vô minh thì không thể hiểu được điều ấy.

Đức Phật đã dạy Giáo pháp rất chi tiết trong 45 năm, Người đã dạy Vinaya (Tạng luật), Suttanta (Tạng kinh) và Abhidhamma (Tạng vi diệu pháp). Ngài đã dạy Giáo pháp một cách rất chi tiết, bởi vì Ngài biết lượng vô minh khổng lồ của chúng ta. Thực tại chỉ có danh và sắc, nhưng Đức Phật đã dạy nhiều khía cạnh của chúng. Người dạy Tứ niệm xứ để ta có thể hiểu được thực tại chỉ là vô ngã. Chẳng hạn người dạy niệm Thọ để ta biết sự thực về các loại cảm thọ khác nhau. Trong đó có thọ hỷ, thọ ưu, thọ xả và thọ khổ, thọ lạc trên thân, tất cả đều không phải là “ta”, là ngã. Bây giờ chúng ta có thể nhận thấy rằng có nhiều loại danh và sắc, thực tại xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Cảm thọ sinh mỗi lúc có cái thấy, cái nghe, cái nếm, cái ngửi hay kinh nghiệm về đối tượng xúc chạm hay suy nghĩ.

Khi chúng ta xem xét thực tại của cảm thọ, chúng ta thấy chúng có nhiều loại khác nhau, nhưng ngoài cảm thọ ra cũng có những cái khác, chẳng hạn như tham, sân, sự ghen tuông, sự bủn xỉn và nhiều loại tâm sở bất thiện khác. Bên cạnh ấy cũng có nhiều loại tâm sở thiện (tâm sở tịnh hảo). Tất cả những thực tại này đều sinh diệt theo nhân duyên tương ứng. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta có nhiều sự thất niệm và vô minh khi không có chánh niệm hay biết đặc tính của các thực tại đang xuất hiện.

        Buth Sawong: Tôi nhận được một câu hỏi từ ai đó hỏi rằng một người thực hành tứ niệm xứ cần phải làm gì khi người ấy kề cận cái chết?

        Khun Sujin: Không có ai cả, không có cái ngã nào có thể làm gì. Chỉ có tâm, tâm sở và sắc sinh khởi liên tục nhờ nhân duyên riêng của chúng.

        Buth Sawong: Ở thời điểm lâm chung và sắc đã diệt đi, danh cũng diệt đi. Vậy cái gì sẽ sinh?

        Khun Sujin: Sẽ lại có sự sinh khởi của danh và sắc. Có phải rằng chỉ một khoảnh khắc trước thì danh và sắc đã diệt đi không?

        Buth Sawong: Đúng là như vậy

        Khun Sujin: Và như vậy lại có sự sinh khởi của danh và sắc?

        Buth Sawong: Đúng vậy

        Khun Sujin: Danh và sắc sinh khởi và diệt đi hoàn toàn theo nhân duyên, luôn như vậy. Nếu danh và sắc không sinh khởi thì chúng ta đã không ngồi ở đây.

        Buth Sawong: Khi tôi và những người thân của mình tới gặp bà tại sân bay, bạn đã nói với chúng tôi rằng chúng tôi có trí tuệ. Bà nói đến trí tuệ đó là ở khía cạnh nào?

        Khun Sujin: Những người thân của bạn đã nghe Giáo pháp mà bạn giải thích trong các bài giảng của bạn trước khi đến gặp tôi có đúng ko?

        Buth Sawong: Đúng là họ cũng có nghe

        Khun Sujin: Nếu như họ không có chút hiểu biêt nào từ cái nghe, liệu họ có nghe tiếp hay không?

        Buth Sawong: Họ đã nghe và có được cái hiểu từ cái đã được nghe.

        Khun Sujin: Đó chính là trí tuệ, trí tuệ là cái hiểu!

(1)đầu (6)... 7 8 9 [10]
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI