• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

LÝ TƯỞNG VÀ CHỦ NGHĨA

Tôi tìm cái gì cao siêu nhất cho tôi và cho những ai tin tưởng nơi tôi.
Tôi sẽ không hạ thấp ý muốn xuống mức những người chỉ tìm vật chất thô kịch, nghèo nàn, theo một giải pháp tiêu bình hòa giải trên thế gian.
Có ích chi, nếu một ngày kia con
 đường sẽ lu mờ và tối dần đi!
Tôi sẽ nở một nụ cười từ ái để rọi sáng con đường và tiếp tục lặn lội đi tìm …
Tôi tìm cái gì cao siêu nhất! -- KASSAPA THERA

Biết bao sự kiện trong lịch sử nhân loại đã chứng tỏ rằng khi một nhóm người thảo ra một chủ nghĩa và quyết định tạo một xã hội thích hợp với chủ nghĩa ấy tức nhiên có người khác bị phiền khổ. Những người đứng lên sửa đổi xã hội có thể và thường là những nhân vật lý tưởng, hiểu biết và thông minh. Nhưng, trái ngược thay, chủ tâm càng thành thật và tốt đẹp kết quả lại càng tàn khốc và đau thương.

Sớm hay muộn, vô tình hay cố ý, những "Con người của Định Mạng" ấy đồng ý chấp thuận nguyên tắc "Cứu cánh biện minh phương tiện", dùng tất cả thủ đoạn miễn đạt được mục đích, do đó, một lần nữa, cái mà mọi người đã nhìn nhận là khốn khổ và khả ố lại biểu hiện một cách dễ dàng nhanh chóng. Khẩu hiệu thay thế lý lẽ. Cảm kích lấn áp lý trí. Con người say đắm. Người này bỗng nhiên thấy mình đang siết cổ người kia mà không biết đích xác tại sao.

Người Phật tử, dầu tầm thường đến mức nào, không để mình lầm lạc có những thái độ dại dột và khiếm nhã dường ấy. Người Phật tử tìm Chân lý và không nhận những "Chân lý nửa mùa", những sự thật phân nửa. Người Phật tử phải tự tìm chân lý trong chính bản thân mình. Không có ai, dầu là một vị Phật đi nữa, có thể truyền cho một người khác sự giác ngộ hoàn toàn. Mỗi người Phật tử chỉ noi theo gương Đức Phật và Chư vị A-La-Hán để cố gắng tự giải thoát cho mình.

Vì lẽ ấy, người Phật tử không thấy cần phải có một chủ nghĩa, một học thuyết và không thấy cần phải đòi hỏi một cứu cánh biện minh cho phương tiện. Chúng ta không tìm cách bắt buộc người khác phải theo con đường của ta và sống theo lối sống của ta. Lịch sử Phật Giáo không tìm cách thâu nạp tín đồ. Người Phật tử không tin tưởng có ai có thể kéo lôi chúng sanh, từng đoàn, vào cảnh Niết Bàn. Khi lặp lại cho một người nào nghe Phật Pháp, ta hành động như một người tự do đối với một người tự do.

Theo Phật Giáo, Chân lý cuối cùng là cứu cánh. Tự kiểm soát, tự trau dồi tâm trí và có những ý tưởng trong sạch là phương tiện. Cứu cánh hướng dẫn phương tiện mà không cần biện minh phương tiện. Tự kiểm soát, tự trau dồi tâm trí và có những ý tưởng trong sạch tự mình chứng minh lấy mình và là một phước lành trong mỗi từng, một ân đức trong mỗi giai đoạn mà chúng sanh lần hồi đạt đến trên đường tiến bộ đến nơi giác ngộ hoàn toàn.

BỐ THÍ CAO THƯỢNG

Bố thí vì lòng từ bi, cho những người thiếu thốn, với tấm lòng thương xót…
Đó là mầm giống quý báu, cao thượng hơn những gì rực rỡ, huy hoàng mà vô bổ.

Dâng cúng, với tấm lòng thành kính, đến bậc thầy tổ, mẹ cha, đến bậc thân nhân và bậc thiện tri thức,…lại càng cao quý.
Cho ra để gieo duyên lành, truyền bá Chân lý và mở đường dẫn lối đến giới hạnh, tu niệm và ánh sáng của Trí tuệ.

Đó là bố thí cao thượng! -- KASSAPA THERA

"Cho" là một nghệ thuật, và cũng như các nghệ thuật khác, ta có thể trau dồi nghệ thuật "cho" bằng cách thực nghiệm hàng ngày. Người hà tiện, người chỉ nghĩ đến mình, cảm thấy khó lòng mà cho ra. Đối với hạng người này, dầu cho đến bà con thân thuộc cũng là rất khó. Không phải vì kém tình thương, nhưng vì quá thương mình. Lòng luyến ái gắn bó vào quyền lợi riêng của mình quá mạnh, đàn áp tất cả mọi cảm tình.

Hơn một chút nữa là những người sẵn lòng cho ra để giúp bà con thân thuộc. Ngoài ra không thích cho ai khác. Cho cha mẹ, con cái và một số thân nhân, quyến thuộc nhưng không nới rộng lòng quảng đại ra khỏi vòng nhỏ hẹp ấy. Họ giống như ngọn đèn trong một hộp kín, chỉ rọi bên trong. Không một tia sáng nào lọt được ra ngoài. Hạng người này cũng bị luyến ái và tình thương đối với cái "Ngã" của mình quá mạnh. Nhưng "Ngã" ở đây không chỉ có nghĩa là "Ta". Ngã đây là "cái gì của Ta".

Phần đông chúng ta thuộc về hạng người này. Có khác nhau chăng nữa chỉ ở bản tính vị kỷ cao hay thấp, ít hay nhiều. Ai đông bạn, nhiều thân thuộc và cho ra dễ dàng, vui vẻ, được kể vào hạng người rộng rãi, quảng đại. Người có giới hạn thân cận eo hẹp hơn, cho ít hơn, bị liệt vào hạng keo kiệt bủn xỉn. Thật ra, keo kiệt hay quảng đại, rộng rải hay bủn xỉn, chúng ta vẫn ở trong một cái vòng hạn định, nhỏ hay to, rộng hay hẹp.

Cao thượng hơn tất cả là ít người bố thí không giới hạn, nới rộng lòng quảng đại ra mãi mãi và tỏ rạng như ánh thái dương, bao trùm tất cả chúng sanh vạn vật.

Người bố thí đến mức cao thượng hơn tất cả là Đức Phật. Không phải trong kiếp chót, mà khi còn là một vị Bồ Tát, từ vô lượng tiền kiếp Ngài đã ban ra bao nhiêu của cải, tài sản, đến cả mắt, mũi, tay, chân và cả thân mạng. Trong kiếp cuối cùng, Ngài đã bố thí vật quý báu và cao cả nhất trên đời là Pháp Bảo. Ngài ban ra dễ dàng cho tất cả những ai có tai muốn nghe và có trí muốn hiểu.

Sẵn có gương sáng dắt dẫn, mỗi chúng ta phải lãnh lấy trách vụ thực nghiệm nghệ thuật "cho". Ta phải kiên tâm cố gắng, tăng gia mãi mãi số người mà ta có thể cho. Từng phút ta hãy cố gắng phá tan bức tường vị kỷ để lòng quảng đại của ta có thể rọi đến những người bên ngoài. Một ngày kia nó sẽ trở nên vô lượng, vô biên.

TIN TƯỞNG

Để vượt qua trận thủy tai tràn ngập đời sống với dục vọng, sanh tử, tà kiến, và si mê.

Ta không thể đứng yên một chỗ, cũng không thể bó tay chịu chìm đắm một cách ngông cuồng.

Ta phải có đủ quả cảm, cương quyết, và một niềm tin tưởng hoàn toàn vững chắc. -- KASSAPA THERA

Có gì khác biệt giữa một người biết bơi lội và một người không biết? Cả hai đều có thể là người tuổi tác, ốm yếu và thiếu vận động. Tuy nhiên, nếu một ngày kia rủi ro cả hai cùng té xuống sông sâu, người biết bơi lội sẽ không sao, còn người không biết lội sẽ bị chìm nếu không ai đến cứu. Tại sao? Vì do kinh nghiệm thâu thập từ trước, người biết bơi lội vững tâm tin tưởng rằng nước sẽ nâng đỡ mình nên không vùng vẫy, không phí sức, mà chỉ cố giữ thân nổi trên mặt nước. Anh tin chắc như vậy và buông trôi để nghỉ. Anh cũng biết chắc chắn không bị chìm đắm xuống sâu. Chỉ giữ mũi và miệng trên mặt nước là được. Người không biết bơi lội, không thể tin tưởng như vậy. Người không biết bơi thì không tin rằng nước có thể nâng đỡ thân mình, cũng không tin rằng mình có thể nổi trên mặt nước, nên không buông trôi để nghỉ. Anh cố hết sức vùng vẫy và tranh đấu để sống, nhưng luống công vô ích. Sau cùng anh thất bại.

Đây chỉ là một thí dụ cho ta thấy tầm quan trọng của niềm tin tưởng. Tin tưởng phát sanh do sự hiểu biết, căn cứ nơi trí tuệ. Đó là đức tính chánh yếu giúp ta thành công trong mọi hoạt động, mọi cố gắng, từ việc xâu sợi chỉ qua lỗ kim đến việc tham thiền nhập định. Đó là tất cả sự khác biệt giữa thành công và thất bại (xúc tiến một việc làm với lòng tự tín, tức nhiên để thành tựu mỹ mãn). Lắm khi đó là sự khác biệt giữa sống và chết.

Có người gọi tính ấy là "Đức tin", một danh từ cũng tốt đẹp như bất luận danh từ nào khác. Nhưng đức tin bao hàm một ý nghĩa không mấy thích hợp với tinh thần tự chủ, tự lập của những người muốn tự mắt thấy, tự tai nghe, tự trí hiểu biết.

Vô phúc thay, có nhiều việc ta không thể tự ta chứng nghiệm một cách châu toàn. Như nếm chất cy-a-nua (cyanure) chẳng hạn. Người xưa có câu: "Kinh nghiệm giống như một cái lược mà người ta chỉ có khi đầu đã rụng hết tóc". Thật vậy, khi thâu thập đủ kinh nghiệm thì đã già, không còn cơ hội để thực nghiệm nữa.

Người trí tuệ biết hưởng kinh nghiệm của kẻ khác.

Tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết không bắt buộc phải là niềm tin tưởng phát sanh do kinh nghiệm bản thân. Vì lẽ đó có người bằng lòng xuất ra nhiều tiền để nhờ thầy dạy dỗ. Thầy là những chuyên viên đã thâu thập kinh nghiệm cần thiết, hiểu biết đầy đủ, để truyền lại cho người khác, lấy đó làm kế sinh nhai. Người trí tuệ kính cẩn lãnh giáo và tin tưởng, thực hành lời dạy. Có phải đó là đức tin mù quáng không hay phải chăng đó là tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết?

Đối với người Phật tử, Đức Phật là bậc Tôn sư cao quý nhất tự cổ chí kim. Tuy nhiên, cũng có người đã tự coi là Phật tử mà không tín nhiệm nơi Đức Phật và không hành động theo lời dạy của Ngài, trong lúc họ đặt hết niềm tin tưởng nơi một bác sĩ gia đình hay một huấn luyện viên thể thao. Họ ngờ vực một bậc vĩ nhân đạo đức nhưng khiêm tốn nhìn nhận trí tuệ của một phàm nhân.

TÂM LỰC

Từ vùng nhiệt đới, một bậc Thánh Nhân đơn độc rải khắp bốn phương, bên trên, bên dưới, một ánh đạo Từ bi rực rỡ, linh hiệu, vô lượng.
Và, ở một phương trời xa xăm, nơi tuyết phủ sương rơi, Tử thần xuất hiện…
Chung quanh giường, tiếng khóc lời than, "Người" đương cơn tuyệt vọng, gắng sức, niệm niệm chỉ quán hướng theo: "Tâm Từ nhẹ nhàng êm dịu như cánh hoa hồng!" và mỉm cười, thở hơi cuối cùng. -- KASSAPA THERA

Điện là một năng lực, Tâm cũng là một năng lực. Không ai phủ nhận năng lực của điện. Nhưng có người còn ngờ vực năng lực tâm vì thiếu khí cụ đo lường tâm lực. Tuy nhiên, những ai đã chứng nghiệm được một vài tốc lực của tâm sẽ nhận thấy rằng tâm lực thật có hiển nhiên và đôi khi cũng phải kinh ngạc vì sự hiển nhiên ấy.

Từ ngàn xưa người Đông Phương đã nhận biết tâm lực. Lúc người Tây Phương đang chăm chú sưu tầm và tiến triển khá xa trong việc khai thác năng lực của vật chất thì ở Phương Đông người ta chú trọng về tâm lực tế nhị và cũng bước một bước khá dài. Những pháp siêu hình như thần giao cách cảm, thôi miên, huệ nhãn và huệ nhĩ từ xa xưa vẫn thường xảy ra ở Đông Phương. Đối với người Tây Phương thật là hy hữu.

Cũng như tất cả năng lực, Tâm tự nó không tốt cũng không xấu, có thể giết chết cũng có thể cứu sống, có thể tiêu diệt cũng có thể sáng tạo. Và, một lần nữa, cũng như tất cả các năng lực khác, tâm lực thực hiện theo một vài định luật thiên nhiên. Nhiều người đã khảo cứu các định luật ấy hầu khai thác năng lực lặng lẽ và vô hình kia. Một vài người dùng tâm lực trong việc ác và đã gặt hái những quả khổ. Cũng có hạng người dùng năng lực ấy trong việc lành. Đến nay người đời vẫn còn nhắc nhở đến danh thơm lưu hậu với tấm lòng thành kính tôn sùng.

Đức Phật cao quý hơn tất cả các giáo chủ tinh thần. Hiểu biết thấu đáo và hoàn toàn nhữngđịnh luật thuần lý chi phối hiệu lực của tâm, Đức Phật khuyên các môn đệ nên tận dụng tâm lực của mình trong việc tốt đẹp, cao thượng nhất là sự giải thoát cuối cùng. Theo Phật giáo, giai đoạn đầu tiên trên đường tiến bộ đạo đức là Giới (Sīla). Người muốn kiểm soát tâm trước tiên phải biết kiểm soát lời nói và hành động của mình.

Giai đoạn kế là Định (Samādhi) tức là tham thiền nhập định. Thật ra, không phải dễ. Đức Phật có dạy 40 đề mục tham thiền. Trong trường hợp không có thiền sư, hành giả phải tự mình phân tích bản tánh mình và chọn một đề mục thích hợp. Trong các đề mục thiền định, niệm "Tâm Từ" rất hữu hiệu và thích hợp với mọi người. Tâm Từ là tình thương không vị kỷ, lòng từ ái bao trùm tất cả chúng sanh. Niệm "Tâm Từ" là một phương pháp thiền định an toàn và hữu ích cho tất cả, dầu là người giới hạnh không được trong sạch hoàn toàn. Niệm "Tâm Từ" là một phương pháp thiền định tinh khiết và công hiệu, bổ dưỡng thân thể và giúp tâm thanh tịnh, an trụ dễ dàng.

Đối với đại chúng quá vội vã, khi thấy người niệm "Tâm Từ" ngồi trầm lặng một mình thì cho rằng người ấy không hoạt động gì hết. Nhưng ai đã hiểu biết hiệu nghiệm của tâm lực có thể xác nhận rằng hành giả kia là một máy phát điện toàn hảo đang phóng ra những làn tư tưởng từ bi trong bầu vũ trụ mà hầu hết hình như không còn biết phải làm cách nào để thể hiện lòng thương. Mong sao có được một số đông người thiền định như vậy để cùng chung phối hợp một năng lực hùng hậu khả dĩ cứu vãng nhân loại thoát khỏi nạn tự sát, tự diệt.

"Thật vậy, không thể lấy thù oán để dập tắc sân hận. Chỉ có Tâm Từ mới diệt lòng sân. Đó là nguyên tắc đạo lý từ ngàn xưa". -- PHÁP CÚ (5)

GIỚI

"Người giữ giới trong sạch được yên vui và có năng lực hùng hậu.
Trong một tâm hồn chính trực không có chỗ nương tựa cho sự sợ sệt lo âu,…
Chỉ có giới hạnh." -- KASSAPA THERA

Giới (Sīla) là giai đoạn đầu tiên trên đường tiến bộ tinh thần và đạo đức. Trong lúc tham thiền nhập định ta học tập gom tâm lực vào một điểm. Nhưng, muốn gom tâm lực vào một điểm, trước tiên phải biết làm thế nào cho năng lực của tâm có công hiệu.

Nếu giữa ban trưa, đứng ngoài trời ta dùng một ống kính lồi để gom ánh sáng mặt trời vào một điểm nhỏ trên bàn tay, trong khoảnh khắc ta sẽ nghe nóng. Trái lại, ban đêm cũng đứng chỗ ấy và cũng dùng ống kính lồi ấy để gom ánh sáng một ngọn đèn điện 40 watts (thay ví ánh sáng mặt trời) ta sẽ không nghe nóng trên tay, ngoại trừ khi nào ta có một xúc giác đặc biệt nhạy nóng.

Tâm lực cũng vậy, khi an trụ, tâm càng mạnh, tâm lực càng hùng hậu. Tâm yếu, dầu có an trụ cũng không sao tạo được năng lực mạnh. Vì thế, cùng an trụ như nhau, tâm lực của mỗi người mạnh yếu khác nhau, và quan trọng hơn, tâm lực an trụ của một người, từng lúc, cũng không bằng nhau. Một bẩm tính dũng mãnh cũng có lúc yếu ớt, một bẩm tính yếu ớt lắm khi cũng hùng hậu.

Vậy, giai đoạn đầu tiên trong việc trau dồi tâm lực là kiên tâm cố gắng rèn luyện cho tâm được thuần thục và trở nên một nguồn sinh lực dồi dào. Nói cách khác, phải rèn luyện ý chí. Để nung đúc một ý chí sắt đá, phương thức hữu hiệu nhất là tự kiểm soát từng phút, từng giây, từng chập tư tưởng, không ngừng. Giới (Sīla) là phương tiện hoàn hảo nhất để tự kiểm soát. Giới có nhiều bậc, từ năm giới căn bản của hàng cư sĩ đến không biết bao nhiêu quy tắc mà các bậc cao tăng (Upasampada Bhikkhu) phải giữ tròn. Tức nhiên là có rất nhiều phương pháp để tự kiểm soát. Ta có thể giữ thế quân bình, đầu cắm xuống đất chân chỏng lên trời, như thế luôn mấy tiếng đồng hồ. Ta có thể để bụng đói, đi bộ ngày này qua ngày kia hay giơ tay lên trời cho đến lúc chết khô. Luyện như thế để có một ý chí cương quyết nhưng các phương pháp ấy không giúp ta có tâm trong sạch.

Những nhà phê bình quá vội vã, không kịp suy nghĩ, cho rằng giới luật nhà Phật là tiêu cực, chỉ cấm chế những việc xấu xa tội lỗi mà không khuyến khích làm điều lành. Phê bình như vậy là hiểu lầm chữ Giới (Sīla) và mục đích của Giới. Giới (Sīla) tự nó không phải là mục tiêu mà chỉ là một phương tiện để đi đến mục tiêu. Người Phật Tử chỉ có một mục tiêu và hết sức cố gắng đạt cho kỳ được mục tiêu ấy là đạo quả Niết Bàn, là sự giải thoát cuối cùng ra khỏi biển khổ trầm luân đáng ghê tởm, khỏi vòng phiền não luân hồi, sanh, lão, bệnh, tử.

Nhiệm vụ của người cư sĩ Phật giáo là giữ tròn năm giới (Panca Sīla) tức là kiêng cữ năm điều bất thiện: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, và dùng chất say có hại đến tinh thần. Ai bền chí giữ tròn năm giới này sẽ có một chí lực mạnh mẽ, tâm dễ an trụ và khi đã an trụ tâm này trở thành một nguồn sinh lực vô cùng hùng hậu.

ĐỊNH

"Anh muốn có pháp thần thông không?

"Vậy, hãy giữ tròn giới hạnh và cố gắng định tâm vào một điểm trong sạch.
"Kết quả thâu gặt sẽ là sự hiểu biết sâu rộng của vị trời.
"Thật vậy, còn hơn các vị trời, vì các vị này không bao giờ hiểu biết gì ngoài vũ trụ." -- KASSAPA THERA

Với pháp tham thiền nhập định (Bhāvana) ta đã bước vào trung tâm giáo lý của nhà Phật. Thiền định là phương thức cao quý nhất để phát triển tâm lực và để tạo nên những tâm trạng phỉ lạc và những năng lực thần thông (Iddhi).

Trạng thái phỉ lạc và năng lực thần thông chỉ là những quả lành mà hành giả có thể thâu được trên đường tiến bộ tinh thần chớ không phải mục tiêu cuối cùng của người Phật Tử, vì chính những tâm trạng và những năng lực kia cũng là vô thường, sanh rồi diệt. Một môn đệ chân chánh của Đức Như Lai Chánh Giác chỉ có một mục tiêu là sự giải thoát cuối cùng. Ngoài ra, tất cả là giả tạm, là vô thường, là ảo mộng.

Tuy nhiên, ta hãy thành thật với ta. Mặc dù những năng lực thần thông như huệ nhãn, huệ nhĩ v.v…không phải là mục đích tối thượng của người Phật Tử chân chánh, ta vẫn thích và mong mỏi đạt được đến từng ấy. Và, cũng như tất cả việc khác, những năng lực ấy lắm khi cũng hữu ích. Ta hãy tưởng tượng ảnh hưởng sâu rộng đến đâu của một nhà truyền giáo, vừa thuyết về những cảnh vui buồn trong đời sống, vừa làm cho mọi người thấy hiển hiện trước mắt những trạng thái khổ sở hoặc vui sướng, y như lời nói.

Là Phật Tử, ít nhiều tiến bộ hơn những người chỉ mang suông danh Phật Tử, ta đã tiêu phí bao nhiêu năng lực và thì giờ để chạy theo những mục phiêu hoàn toàn vật chất, ta không nên giả dối, tự đắc cho rằng ta không màng đến những năng lực thần thông vì đó không phải là cứu cánh của chúng ta. Trên thực tế, lý do không phải xa lạ. Ta nói như vậy chỉ vì ta cảm thấy không có đủ thì giờ và năng lực cần thiết để thành tựu các phép ấy. Ta cũng có ý nghi ngờ, vì thực ra những phép ấy rất là hiếm hoi trong đời sống thường ngày của ta. Tóm lại, chúng ta hoàn toàn là tai phàm mắt thịt.

Đời sống thường ngày của chúng ta là gì? Chỉ có một vòng quanh quẩn đáng chán và đáng sợ. Chúng ta mãi lo quây quần theo công việc sinh nhai hằng ngày mà không còn thì giờ để sống. Chúng ta tận lực củng cố địa vị xã hội. Chúng ta gia công, gắng sức bước lần lên, trên bước thang vật chất, để hưởng chút mồi danh bả lợi và tự lấy làm quan trọng khi thành công. Gặp thất bại, vì phần đông chúng ta phải bị thất bại, ta không quan tâm đến cho đó là việc thường tình của thế sự. Trong khoảng thời gian ấy cái chết lặng lẽ đi đến mỗi người chúng ta, càng lúc càng gần, và, câu chuyện đáng thương tâm lại xảy ra. Trang nhật ký đã lật qua. Một trang khác bắt đầu… trong kiếp sống mới. Và như vậy tiếp diễn mãi mãi, không cùng, kiếp này đến kiếp khác, như những mẫu chuyện khốn khổ triền miên diễn đạt.

Ngoảnh mặt đi, không nhìn thấy những việc phù phiếm, sớm sanh tối diệt ấy có phải là trốn đời không? Bây giờ ta đã trưởng thành, bộ y phục của ta lúc còn thơ ấu đã trở thành quá bé nhỏ, vậy bỏ nó đi với các món đồ chơi trẻ con có phải là trốn đời không? Trong pháp thiền định, trạng thái phỉ lạc và năng lực thần thông chỉ là những kết quả phụ thuộc, những giải thưởng dọc đường vô cùng quý giá hơn tất cả những gì mà ta có thể hưởng thụ trong đời sống vật chất. Ta có thể đạt được, và có người đã đạt được các giải thưởng ấy. Đó không phải là những giả định chỉ có trong trí tưởng tượng. Thiền định dẫn dắt ta đến nơi giải thoát cuối cùng.

Tâm an trụ càng ngày càng yên lặng, càng hùng mạnh và đến mức cùng tột, thấy được chân tướng sự vật. Đến tầng Minh Sát sáng suốt ấy hành giả sẽ có một ý chí cương quyết mau mau thoát ra cho khỏi đời sống và những gì thuộc về đời sống. Cũng như một người vừa thức tỉnh, thấy mình từ lâu nay nặng mang một thây ma hôi thối mà vẫn quý trọng như một bảo vật. Tức nhiên người ấy mau mau quăng bỏ thây ma. Với phản ứng tự nhiên ấy hành giả đã chứng đạo quả Niết Bàn.


Trang 1 [2] 3 4 >> (5)
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI