• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

TUỆ MINH SÁT

Thấy rõ chân tướng sự vật. Hoàn toàn trong sạch, an toàn.

Đó là mục phiêu của bậc Thánh nhân -- KASSAPA THERA

Sau khi dọn tâm trong sạch (trì giới) và tham thiền nhập định (Bhāvana) để phát triển tâm lực, hành giả hướng tâm trong sạch, cương quyết và sáng suốt về đời sống. Người hành pháp chỉ quán Minh Sát (Vipassanā bhāvana) thường sống một mình nơi rừng sâu vắng vẻ hay động đá hoang vu vì sự yên tĩnh của ngoại cảnh giúp ích cho sự yên tĩnh của nội tâm.

Hạng người tầm thường, không thích suy nghĩ, xem các nhà tu ẩn sĩ như những người hèn nhát, trốn tránh nhiệm vụ. Sự thật chẳng phải vậy. Đó là lối sống trực tiếp gần nhất với đời sống. Trong thế gian người bận việc nhất chính là người luôn luôn trốn tránh đời sống vướng vít theo công việc này đến công việc khác và không khi nào có đủ thì giờ để thấy rõ mặt thật của đời. Phải có đủ can đảm để được yên tĩnh.

Có bảy đức tánh, khi tác động phối hợp, giúp ta thành tựu Minh Sát Tuệ. Bảy đức tánh ấy là bảy nhân sanh quả bồ đề (bojjhanga) hay là bảy yếu tố đưa ta đi trên con đường sáng suốt (Giác Đạo): Niệm (Sati), Trạch Pháp (Dhamma vicaya), Tinh Tấn (Viriya), Lạc (Piti), Khinh an (Passadhi), Định (Samādhi), và Xả (Upekkha).

Thực hiện đầy đủ bảy đức tính ấy ta sẽ ý niệm được thế nào là tâm và trí của một người thuần thục, đủ trưởng thành để hành pháp Minh Sát. Chừng ấy ta mới quan niệm được thế nào là một nhà ẩn sĩ chân chánh, luôn luôn chú ý đến các hoạt động của tâm như người lính canh trong tình trạng báo động, luôn luôn kiểm soát tâm không để một tư tưởng dầu nhỏ nhen nào thoạt qua mà không hay biết, không một phút thối chí, luôn luôn bền gan, kiên dạ, vui vẻ, trầm tĩnh, an trụ và bình thản. Nhà ẩn sĩ chân chánh là một bậc anh hùng, can đảm, không ngại nhìn thẳng vào thực tế, dám đương đầu với đời sống, việc mà ít người dám làm. Nhà ẩn sĩ không phải là người hèn nhát, trốn tránh nhiệm vụ. Ngài không còn là hạng người chỉ biết nhìn xem bề ngoài của sự vật và cho vậy là thỏa mãn. Ngài đi sâu vào đời sống.

Khi hành giả cương quyết liên tục hành pháp Minh Sát, một ngày kia sẽ đến, trong một chớp nhoáng mà hành giả trực chứng chân tướng của đời sống là vô thường (Anicca), khổ não(Dukkha) và vô ngã (Anatta).

Pháp Minh Sát không phải là một phương pháp suy luận. Suy luận không thể giúp ta thành tựu Minh Sát. Minh Sát Tuệ là một chứng nghiệm trực tiếp có hiệu nghiệm sâu xa thâm diệu. Khi đạt được tia sáng Minh sát, hành giả đã đắc quả Tu-Đà-Hàm và bước vào dòng suối của hàng Thánh. Hành giả đã thoát ra ngoài tam giới và không còn là phàm nhân nữa. Từ đấy một cuộc biến đổi bắt đầu, tuần tự và chắc chắn cũng như đêm tàn là ngày phải đến. Hành giả trì chí, cố gắng tham thiền và khám phá những tia sáng của Minh Sát Tuệ, dần dần bước lên bậc Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm, và cuối cùng, khi đã hoàn toàn sáng suốt, thành tựu đạo quả A-La-Hán.

"Những ai hoàn mãn đầy đủ bảy giác chi (Bojjhanga) (*) tức là bảy yếu tố tinh thần đưa đến tầng giác ngộ cuối cùng; những ai không còn tham dục, biết vui hưởng đời sống xuất gia, những ai hoàn toàn đức hạnh, dầu sống trong thế gian này cũng đã đắc được đạo quả Niết Bàn." -- PHÁP CÚ (89)

(*) Danh từ Bojjhanga do hai căn nguyên: Bodhi là giác ngộ hay người cố gắng, quyết tâm tu tập để đạt quả vô thượng bồ đề. Anga là yếu tố, nguyên động lực (A Manual of Abhidhamma - Narada Maha Thera).

Vậy Bojjhanga hay thất giác chi là bảy yếu tố hay bảy pháp tu tập giúp cho ta thành tựu đạo quả Chánh Giác.

Dhamma-vicaya (Trạch pháp hay Niết Bàn) là thấy vạn pháp -- danh và sắc -- như thực. Thấy rõ chân tướng sự vật (A Manual of Abhidhamma - Narada Maha Thera).

XUẤT GIA (I)

Ai dứt bỏ được những khác vọng của mình để ra đi như người không nhà cửa.

Ai đã tận diệt tham dục và từ bỏ những thích nghi của đời sống vật chất: Ta gọi người ấy là thiện tri thức (brahamana). -- PHÁP CÚ (415)

Xuất gia là nguyện vọng đầu tiên trong sáu nguyện vọng cao thượng (Ajjhavayas) của Bồ Tát. Đúng ra, Bồ Tát là người đã được một vị Phật cho biết rằng một ngày kia trong tương lai mình sẽ thành Phật. Trong một tiền kiếp của Đức Phật Gotama, Ngài đã được Đức Phật Dipankara thọ ký rằng một ngày kia Ngài sẽ đắc quả Phật. Chính trong kiếp ấy Ngài là một nhà ẩn sĩ tên Sumedha, cũng đã tu đến trình độ có thể chứng quả A-La-Hán. Nhưng Ngài là một bậc dũng cảm và anh hào. Với lòng từ bi vô lượng bao trùm tất cả chúng sanh, Ngài đã chọn con đường vô cùng kham khổ, vô cùng khó khăn, con đường Bồ Tát, để tế độ vô số chúng sanh.

Đó là xuất gia cao thượng (ba-la-mật).

Từ lúc ấy, xuyên qua vô lượng kiếp, Ngài không ngừng chiến đấu và không ngừng xây dựng đạo quả tối cao của quả vị Phật Tổ. Mục tiêu chính của Ngài -- lúc Ngài có thể nhớ đến – là đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác. Để đến mục tiêu cuối cùng ấy Ngài luôn luôn thực hành mười Pháp Ba-la-mật (Paramis) có khi hy sinh đến cả tánh mạng. Nhưng trong khoảng thời gian dài đăng đẳng, lắm lúc không có Phật Pháp, Bồ Tát cũng có những kiếp sống lu mờ, quên cả mục tiêu cao cả của mình.

Bồ Tát là một tâm lực vô cùng hùng hậu, mà năng lực có thể dẫn dắt thật xa trong đường thiện cũng như trong đường ác. Nếu sai lầm hướng tâm lực ấy về chiều ác nó sẽ rơi xuống thật sâu với một tốc lực khủng khiếp, khó mà lường trước được. Có cái chi giữ Bồ Tát vững bước trên con đường dài thăm thẳm, kiếp này sang kiếp khác, bằng triệu kiếp sống nối tiếp nhau như vậy? Cái ấy chỉ có thể là bản tính cố hữu dính liền với nhân cách Ngài.

Vì lẽ ấy sáu nguyện vọng của Bồ Tát, của tất cả các vị Bồ Tát, rất quan trọng với ta là hàng Phật tử. Xuyên qua những điều ước mong của một người, ta có thể đoán chừng nhân cách của người ấy. Nguyện vọng của Bồ Tát là xuất gia (Nekkhamma), ẩn dật (Paviveka), không tham(Alobha), không sân (Adosa), không si (Amoha) và tự do (Nissarana). Từ kiếp này sang kiếp khác, Bố Tát luôn luôn có khuynh hướng đặt lối sống của mình trên sáu điều ấy.

Đối với người thường trong dân gian danh từ "đủ" chỉ có nghĩa là thèm, no nê, chán chường. Bản tính con người là tham ăn và chỉ chịu là "đủ" tạm thời trong một lúc, khi không còn cách gì nuốt vào được nữa. Trong quyển sách nhỏ này, tác giả lặp đi lặp lại tỷ dụ của người tham ăn thô kệch. Vì đói bụng là một mẫu chứng cụ thể, thiết thực. Nhưng có nhiều chỗ khác dùng những hình ảnh bóng bẩy và trừu tượng hơn, như lòng khao khát tiền của chẳng hạn. Một người thường không khi nào thấy mình có đủ tiền bởi lý do rất giản dị là lòng tham không có đáy. Dù giàu sang đến đâu ta cũng còn muốn "" thêm nữa và luôn luôn ráng sức để trở nên giàu hơn, hơn mãi. Nói "đủ" hình như là một cách nói điên rồ.

Bồ Tát thì khác hẳn. Ngài có một bản năng tự nhiên hướng về sự xuất gia. Mặc dù cha mẹ giàu sang, quyến thuộc quyền quý, mặc dù đời sống vật chất tương lai huy hoàng rực rỡ, đầy đủ tiền của và thế lực, bản tính tự nhiên của Ngài luôn luôn hướng về sự xuất gia. Ngài nói "đủ" không phải vì chán chê, mà vì đối với Ngài "xuất gia" có một ý nghĩa sâu xa, hoàn toàn cao quý.

Đối với một bản tính dũng cảm như Bồ Tát, quan niệm đời sống như thế ấy không có gì là lạ. Từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, bản tính dũng cảm ấy có khuynh hướng tránh xa các cuộc rượt bắt, chạy theo những mục tiêu ít nhiều đê tiện của thế gian. Từ kiếp này sang kiếp khác Ngài dần dần vứt bỏ xiềng xích của thế gian để tự do ra đi, sống đời sống không nhà cửa của người ẩn sĩ, mặc dù trong nhiều kiếp Ngài không bao giờ được biết Phật là gì. Bản tính dũng cảm ấy hẳn là tay lái dắt dẫn Bồ Tát ngay đường thẳng lối đến mục tiêu cuối cùng.

XUẤT GIA (II)

Người đã trưởng thành, người đã vượt lên trên các món đồ chơi trong đời sống. Người ấy đã qua thời kỳ ấu trĩ. Nguời không còn cầu mong gặt hái. Người ấy không phải là người gieo giống. -- KASSAPA THERA

Người đời thường hiểu rằng xuất gia là từ bỏ đời sống vật chất. Trong Phật Giáo, xuất gia(Nekkhamma) là một sự trưởng thành hơn là một sự từ bỏ.

Ta có thể từ bỏ một vật gì của ta, hay đúng hơn, một vật gì mà ta tưởng rằng của ta vì nhiều lý lẽ: để thâu phục cảm tình của người có thế lực, để được tiếng tốt v.v… Có rất nhiều lý do khiến cho ta cho ra một sở hữu, Các lý do ấy có khi tốt, lắm lúc cũng xấu. Nhưng động lực thúc đẩy một người xuất gia chân chánh thật giản dị, thật là cao quý: chỉ là ý muốn ra đi.

Để lấy một thí dụ, ta hãy quan sát một em nhỏ giữa đống đồ chơi của em. Đôi khi em chịu đưa ra một món đồ chơi để cho một em khác vì lòng tốt. Lắm khi em làm vậy để lấy lòng em kia. Cũng có khi em ý thức được rằng đó là một hành động tốt đẹp và em muốn trở nên tốt. Nhưng trong thâm tâm em vẫn còn ưa thích món đồ chơi ấy.

Hành động từ bỏ kể trên không giống thái độ ra đi của người xuất gia chân chánh.

Nhưng rồi em bé kia lớn dần lên, tầm mắt em mở rộng ra và một ngày nọ em tự nhiên cảm thấy rằng những món đò chơi yêu quý kia chỉ còn là một gánh nặng cho em. Thường ngày em phải cất công chăm sóc lau chùi và sắp xếp, trái lại nó không còn tạo cho em một thích thú nào nữa. Rồi em đâm ra suy nghĩ: "Tại sao ta còn phải gắn bó đeo níu các vật ấy nữa? Hãy để cho ai muốn chơi với nó cứ lấy". Nghĩ vậy nên em không ngó ngàng đến các món đồ chơi trẻ con ấy nữa, không cần biết nó sẽ ra sao, cũng không màng đến việc có ai chơi với nó. Em đã trưởng thành. Em đã vượt qua khỏi thời kỳ chơi với các đồ chơi ấy.

Đó là thái độ của người xuất gia chân chính.

Trong suốt đời sống và trải qua tiến trình của sự trưởng thành đã biết bao lần chúng ta có thái độ của người xuất gia chân chánh. Biết bao lần ta bỏ rơi lại sau lưng ta những món đồ chơi yêu quý trong một thời nào.

Có những vật sở hữu mà ta quý chuộng và thiết tha khắng khít bao nhiêu ngày hôm qua, hôm nay đã trở thành một gánh nặng vô ích mà ta mau mau quăng đi, không cần biết nó sẽ ra sao, cũng không màng đến người nào dùng nó. Nhưng đối với chúng ta là người phàm tục, có một thời gian đình trệ, trong khoảng ấy, ta không thể tiến triển không trưởng thành hơn nữa được. Do đó, có nhiều vật mà tất cả chúng ta, những ai còn là phàm nhân, vẫn luôn luôn quý chuộng và thiết tha khắng khít, mãi đến một ngày nào Tử thần lặng lẽ đến và nói khẽ vào tai chúng ta: "Hãy rời bỏ tất cả và đi theo ta". Chừng ấy chúng ta vật mình, đau khổ, luyến tiếc những vật quý giá, bám víu thân bằng quyến thuộc, đeo níu đời sống; và do những đeo níu, bám bíu và luyến tiếc ấy, đã gieo mầm cho đời sống mới với những vật sở hữu mới và những phiền não mới. Rồi như thế, đời sống tiếp diễn mãi mãi.

Nếu ta biết cố gắng phát triển tâm lực, trưởng thành thêm nữa để trở nên thuần thục, một ngày kia ta sẽ cảm thấy rằng những vật quý giá của hạng người trưởng thành trong thế gian này cũng chỉ là một gánh nặng vô ích, những món đò chơi mà ta không còn ưa thích nữa. Chừng ấy, ta sẽ nhận định rõ ràng rằng những vật sở hữu mà ta gọi là của ta thực ra không phải là của ta hay chỉ tạm thời là của ta đến lúc có một sự kiện nào xảy ra như cái chết chẳng hạn, sau đó ta không còn kiểm soát được nữa. Chừng ấy ta sẽ thấy rằng ta chỉ là một nạn nhân đang bị giam hãm trong một đống đồ vô giá trị. Không hơn không kém.

Đấy, trước mắt hạng người xuất gia chân chính, những vật sở hữu trên thế gian này là như vậy. Ta còn lấy làm ngạc nhiên mà thấy các Ngài từ bỏ địa vị cao sang và cuộc đời vương giả nữa không? Dứt bỏ gánh nặng, các Ngài mỗi lúc mỗi trưởng thành trên con đường thuần thục. Thuần thục, thuần thục hơn, và mãi mãi đến mức cùng tột, đến lúc không còn mang gánh nhỏ bé nào trên vai, đến ngày Giải thoát cuối cùng.

ẨN DẬT

Người ngồi một mình, nằm một mình, đi một mình, người bền chí cố gắng, người biết tự chế ngự lấy mình: "Người ấy biết tìm thích thú nơi chốn rừng sâu". -- PHÁP CÚ (305)

Sống ẩn dật (Paviveka) là nguyện vọng thứ nhì của chư vị Bồ Tát (*).

Bồ Tát tự nhiên có khuynh hướng tìm nơi vắng vẻ. Không phải vì ghét bỏ người khác, nhưng vì trong đời sống ẩn dật các Ngài nhận thấy có một cái gì cao quý xác thực và trong sạch. Từ kiếp này sang kiếp khác, Ngài lánh xa chốn phồn hoa đô hội để một mình ra đi, sống thanh đạm và tự tại đời sống của người ẩn sĩ.

Phần đông chúng ta có bản năng ưa thích đám đông. Chúng ta thích được luôn luôn sống chung với người khác. Chúng ta thấy thích ứng, thuận chiều khi hành động như phần đông hành động, nói những gì phần đông nói và suy luận giống như phần đông suy luận. Khi bắt buộc phải lánh xa đám đông, dầu trong một thời gian ngắn, ta lấy làm khó chịu và hết sức cố gắng để mau mau trở lại đám đông.

Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế gian, hình như có rất nhiều người lớn tuổi mà hành động như trẻ con. Người ta chấp nhận mọi tín điều và gia nhập mọi trào lưu tư tưởng, mà không bao giờ hiểu biết chính xác vì sao, cũng không cần tìm hiểu. Một nhóm người ủng hộ một chủ nghĩa với tấm lòng nồng nhiệt và thành thật trong khi một nhóm người khác chống lại chủ nghĩa ấy cũng hết sức thành thật và nhiệt tâm. Cả đôi bên đều sẵn sàng hy sinh tất cả, một đàng ủng hộ, một đàng chống lại một chủ nghĩa mà cả hai đều không biết đích xác là gì. Người ta cố gắng hành động theo đúng đường lối một học thuyết, cố gắng chiến đấu, dầu phải chết cũng vui lòng, cho một chủ nghĩa, thay vì suy luận và tìm hiểu học thuyết hay chủ nghĩa ấy. Người ta "mang" vào mình một thứ đức tin cũng dễ dàng và vô ý thức như người ta mang vào người một chứng bệnh, bệnh ban đỏ chẳng hạn.

Sống ẩn dật thật là một thái độ tách rời khỏi đám đông, một thái độ tinh thần hơn là vật chất. Như Ngài Honder đã từng nói, sống ẩn dật là thỉnh thoảng thâu hồi, rút tâm trí ra khỏi những sự bận rộn của đời sống. Phần đông chúng ta luôn luôn quá bận rộn với những việc không đáng. Đôi khi ta cần phải thoát ra khỏi vòng phiền phức ấy để nhìn lại đời sống mà trong ấy có cả ta. Chỉ đến lúc ấy ta mới ý thức được sự cách biệt giữa thực tế và những nhận xét của ta xuyên qua giác quan, chừng ấy ta mới nhận thức được sự sai lầm của ta quan trọng thế nào.

Thỉnh thoảng ta cần phải tự hỏi: "Tại sao?" Chỉ lúc sống ngoài đám đông, ta mới trả lời được.

Bồ Tát luôn luôn đi tìm Chân lý, khi một tâm trí tìm tòi, chăm chú hướng về Chân lý thì chỉ biết có một Chân lý và cương quyết gạt bỏ ra ngoài tất cả những gì không phải Chân lý. Bồ tát đập tan cho kỳ được cái vỏ cứng "tín điều" để tận tường quan sát bên trong. Nếu ở trong là những gì đã hư thối, Ngài không ngần ngai vứt bỏ luôn cái vỏ. Khi Bồ Tát đồng ý với đám đông về một điểm nào tức là tự Ngài đã nghĩ như thế ấy. Ngài không bao giờ chấp nhận vì sợ sệt, lười biếng hoặc vì một lý lẽ nào khác.

Vô phúc thay, nhận xét của đám đông thường là sai lầm! Cho đến những hành động được gọi là đứng đắn cũng thường là những hành động thúc đẩy bởi những lý lẽ sai lầm. Do đó, người muốn tìm chân lý tất nhiên phải bước ra đi một mình, Bồ Tát thản nhiên đi trên con đường của mình, tâm trí không bị quyền lợi trói buộc và không vướng mắc trong dư luận quần chúng. Mỗi khi có thể giúp ích người khác, Ngài rất sẵn sàng và vui vẻ. Tuy nhiên, Ngài cũng biết rằng xen vào công việc của người khác, thường có hại nhiều hơn lợi, vì thế lắm khi Bồ Tát buộc lòng đứng ngoài để nhìn.

Trong đời sống ẩn dật Bồ Tát tìm thấy sự an lành và sức mạnh. Lúc người khác tìm an cư giữa đám đông, Ngài chỉ thấy yên ổn khi sống vắng vẻ một mình. Rừng sâu không làm cho Ngài sợ sệt. Những chuyện lặt vặt nhỏ nhen trong đời sống không làm bận rộn Ngài nữa. Tâm càng lúc càng yên lặng, càng ngày càng an trụ, thiêu đốt tất cả các dây trói buộc của đời sống vật chất. Tâm trí nhẹ nhàng, trong trẻo, yên tĩnh, thanh tịnh, không chút bợn nhơ, luôn luôn tìm tòi, khảo sát và luôn luôn hướng về Chân lý.

(*)…Không thể hoàn toàn trong sạch ngoài lối sống ẩn dật. Không thể hoàn toàn chế ngự nội tâm và chiến thắng tình dục ngoài cuộc chiến đấu đơn độc. Tuy nhiên, sống ẩn dật và hưởng những thú thanh tao do đời sống ẩn dật tạo nên không phải là mục tiêu cuối cùng của đời tu sĩ như mọi người lầm tưởng, mà chỉ là một phương tiện để đạt được mục tiêu cuối cùng. Những nỗ lực không ngừng của Phật Tổ Gotama và bao nhiêu đệ tử của Ngài đã chứng minh điều đó.

"Ta nên nhận định rằng những người ấy (những người sống ẩn dật để thiền định) đang thực hiện một công trình vô cùng hữu ích. Hữu hạnh thay cho ai biết quay nhìn trở lại vào bên trong mình vì trong khoảnh khắc có thể thâu thập lợi ích muôn phần vững bền hơn những người chỉ biết xây dựng hạnh phúc ở bên ngoài" (Master Eckehart)

Có người lầm tưởng rằng bao nhiêu cố gắng của nhà tu ẩn sĩ đều tựu trung vào một mục tiêu ích kỷ. Sự thật không phải như vậy. Một nhà tu ẩn sĩ chân chánh, đã đem hết tâm trí tìm đường giải thoát, phải biết rằng khi tiến đến mức cùng tột, chứng quả Niết Bàn, không còn cái chi gọi là TA, cũng không có cái chi gọi là CỦA TA. Không sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong một nơi nào trường tồn bất biến bởi vì tất cả đều là vô thường, khổ não và vô ngã. Vì lẽ ấy, người đã quyết tâm tiến bước trên đường giải thoát không khi nào còn nghĩ đến cái TA, không thể ích kỷ. Vậy, ta không thể gọi những nhà tu sĩ ẩn dật chân chánh là ích kỷ.


Trang 1 2 [3] 4 5 cuối(5)
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI