• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Ý NIỆM VỀ TẠO HÓA

Người không nhẹ dạ tin càn, người hiểu được cảnh vô sanh bất diệt (Niết Bàn), người đã cắt đứt tất cả các dây trói buộc, người đã chấm dứt mọi cơ duyên (thiện và ác), người đã dập tắt lòng tham dục. Người ấy mới thật là người cao quý. -- PHÁP CÚ (97)

Lắm khi có người hỏi chúng ta, là Phật tử, có tin tưởng Tạo hóa không? Nếu chúng ta không tin tại sao?

Nếu chúng ta trả lời, và chúng ta phải trả lời như vậy, rằng Đức Phật không nhìn nhận có một vị Tạo hóa như một Thần linh tối cao dựng nên muôn loài vạn vật, người ta liền đưa ra luận cứ cổ điển gọi là "Luận cứ người thợ đồng hồ".

Luận cứ ấy như thế này: Mọi vật trên đời, dầu nhỏ nhen như cái máy đồng hồ chẳng hạn đều phải có người làm ra. Không có cái gì bỗng nhiên mà có. Như không có người thợ đồng hồ thì chắc chắn không có cái đồng hồ. Vậy thì cái vũ trụ bao la này với tất cả những sự rung động điều hòa và những năng lực phức tạp của nó, với tất cả các vệ tinh, các hành tinh và tất cả các hiện tượng kỳ diệu xoay chuyển trong vòng trật tự hoàn toàn ắt phải có người sáng tạo.

Câu trả lời chia làm ba phần:

1) "Không có cái gì bỗng nhiên mà có". Vậy anh thợ đồng hồ kia cũng không thể bỗng nhiên mà có. Để không mâu thuẫn với ta, ta cũng phải áp dụng định luật ấy trong thí dụ của người sáng tạo nên vũ trụ và nói rằng Tạo hóa cũng không thể bỗng nhiên mà có. Theo lập luận trên, phải có một người sanh ra Tạo hóa, rồi phải có một người sanh ra người sanh Tạo hóa và cứ như vậy diễn tiếp mãi mãi. Đến chỗ nào phải ngừng?

2) Không có người thợ đồng hồ nào có thể làm ra cái đồng hồ với hai bàn tay không. Vậy Tạo hóa làm cách nào với cái không tạo nên vũ trụ. Nếu cho rằng Tạo hóa cũng có đầy đủ vật liệu như người thợ đồng hồ để dựng nên vũ trụ, vật liệu ấy ở đâu mà ra vì không có cái chi bỗng nhiên mà có.

Hay là vật liệu ấy luôn luôn có sẵn?

3) Nếu "Luận cứ người thợ đồng hồ" đứng vững tất nhiên ta phải kết luận rằng không phải có một Tạo hóa mà có nhiều vị Tạo hóa. Như một cái máy đồng hồ nhỏ nhen và giản dị như vậy mà còn cần phải có nhiều thợ gia công hiệp sức mới được và mỗi người thợ là một chuyên viên. Nếu vũ trụ được tạo ra do một tổ chức nầy sẽ chia ra làm nhiều ngành, nhiều toán thợ chuyên môn chớ không phải một người. Chúng ta không cố tình giữ vững kết luận này. Chúng ta chỉ muốn nói rằng một luận cứ như trên muốn được hợp lý tức nhiên phải đi đến kết luận như vậy.

Đức Phật cũng có đề cập đến các vị Phạm Thiên. Không phải một vị Phạm Thiên viết bằng chữ hoa mà nhiều vị. Đức Phật gọi là Devas, chư thiên.

Ngài cũng cho ta biết một sự thật đáng buồn là các vị chư thiên kia cũng như ta, cũng phải sanh ra, trưởng thành rồi chết. Luật vô thường ở cõi trời cũng giống như ở cõi người. Các vị chư thiên có tuổi thọ nhiều hơn con người thật nhiều nhờ nghiệp tốt của các Ngài. Các vị chư thiên có nhiều năng lực, rất nhiều, cũng nhờ nghiệp tốt của các Ngài. Chính tuổi thọ và năng lực ấy đã làm cho chúng ta lầm tưởng rằng các Ngài trường thọ vĩnh viễn và toàn năng. Đó là một lầm lạc vĩ đại. Khi thời cơ đến, khi nghiệp tốt chấm dứt, các Ngài cũng phải chết như con người phải chết, như trâu bò phải chết. Và sau khi chết các Ngài cũng phải tái sanh bởi vì các Ngài chưa thoát hẳn ra khỏi vòng sinh tử, tử sanh.

Tất cả các vị chư thiên, dầu cao đến đâu, dầu có năng lực hùng hậu thế nào cũng đều là những chúng sanh trong vòng luân hồi  (Samsāra) và đều là sự phối hợp của danh và sắc trong một tiến trình không dứt. (Chư thiên trong cảnh vô sắc giới, Arūpavacara deva, thì chỉ có danh mà thôi). Danh và sắc luôn luôn biến đổi. Trong tiến trình biến đổi ấy Tạo hóa là gì? Đức Phật dạy rằng chỉ có một Tạo hóa: lòng tham dục. Chính lòng tham dục là động lực thúc đẩy chúng sanh lặn hụp trong vòng luân hồi, hết kiếp này đến kiếp khác.

Đó là định luật chung cho tất cả, là Chân lý căn bản. Nếu có vị Tạo hóa, vị Tạo hóa ấy cũng luôn luôn tự tạo do lòng tham dục. Ngài chỉ có thể sáng tạo cái Nghiệp của Ngài và cái Nghiệp của Ngài là tất cả cái gì Ngài có thể dựng nên.

Như vậy, có cái gì không tạo mà nên không? Đức Phật dạy: có. Đối với chúng ta là người phàm (Puthujanas) trong vòng Tam giới -- cái đó chỉ là một danh từ: Niết Bàn. Danh từ ấy nghĩa là hạnh phúc, an vui, là sự giải thoát cuối cùng ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Trong tất cả Giáo lý cao quý của Đức Phật không có một Tạo hóa, không có một vị thần tối cao mà ta phải sợ sệt van lơn. Ta đứng vững trên hai chân của ta: chính ta là Tạo hóa sanh ra ta, ta là chủ của ta. Chính ta là đấng cứu khổ của ta.

Ý NIỆM VỀ LINH HỒN

Tất cả đều không có Linh hồn.

Chừng nào ta nhận thức rõ ràng điều ấy ta sẽ chán nản đời sống vô cùng, Đó là Thanh Tịnh Đạo. -- PHÁP CÚ (279)

Mặc dù đã được giải thích rành rẽ và chứng minh nhiều lần (*), có người vẫn còn khư khư lầm tưởng rằng trong vấn đề tin hay không tin có một linh hồn, Đức Phật giữ một thái độ mập mờ, không cương quyết. Sự kiện ấy không có chi là lạ. Dầu thông minh và học rộng đến đâu ta cũng có thể tin nơi một Linh hồn bất hoại. Thật ra vai trò của lý trí có giới hạn trong việc tin hay không tin có một linh hồn trường cửu. Tuy nhiên, dầu lý trí xui ta tin hay không tin có một Linh hồn, cũng phải chờ khi nhập lưu, đắc tầng đầu của bậc tứ thánh -- Tu-Đà-Hàm -- ta mới gội bỏ được ý niệm riêng của ta. Chừng ấy ta mới dứt được Tà kiến và lòng tin tưởng nơi một Linh hồn tự nhiên biến mất, không bao giờ trở lại.

Chính do nơi hai nhận thức khác biệt giữa phàm và thánh vừa kể trên -- và Đức Phật đã dạy như vậy -- người có lý trí kết luận rằng ý niệm có một linh hồn là sai lầm. Ta không cần phải lên cao đến bậc Tu-Đà-Hàm mới có thể dứt bỏ được ý niệm sai lầm ấy. Nếu ý niệm Linh hồn là đúng và thật có một Linh hồn thường tồn bất diệt thì ra -- so với lời dạy của Đức Phật -- nguời phàm chúng ta đã sáng suốt hơn bậc Tu-Đà-Hàm; hơn cả các vị A-La-Hán. Không thể được, vì Đức Phật đã dạy ta con đường tiến hóa lên từng bậc và khi lên một bậc, trình độ hiểu biết cũng tăng lên một mức.

Trình độ hiểu biết nói đây là là kết quả của sự trưởng thành hơn là của lý trí. Theo Phật Giáo sự trưởng thành của một chúng sanh từ phàm đến thánh là một tiến trình hết sức chậm chạp. Không thể có sự đốt giai đoạn, không thể có những bước tiến nhảy vọt, không thể có những tiến bộ giả tạo. Nói cho đúng ta phải đo thời gian bằng vô ngần chu kỳ (eons).

Tuy nhiên Phật Giáo không phủ nhận có sự thay đổi mau lẹ từ phàm ra thánh như trường hợp tên tướng cướp sát nhân Angulimala đột nhiên trở nên một vị A-La-Hán. Nhưng sự thay đổi mà ta thấy mau chóng kia chỉ là một biểu hiện phát lộ ra ngoài. Chúng ta là những quan sát viên phàm tục, chỉ thấy sự thay đổi trước mắt mà không thấy được quá trình của Angulimala trong dĩ vãng, cái khả năng chứng đạo quả của một người như Angulimala đa tiềm tàng nằm sẵn trong bản tính của Ngài, chỉ chờ có ai gọi đến là xuất hiện thành một thực lực. Chỉ có Đức Phật là có đủ uy lực để gợi lên một tiềm năng như vậy. Vì lẽ đó ta thành kính tôn Ngài là bậc Anutaro purisadhamma sarathi (vô thượng điều ngự trượng phu).

Đôi khi chúng ta cũng quên những lý do thúc đẩy người có ước vọng trở thành Phật phải luôn luôn cố gắng trong vô lượng kiếp, để thành tựu mục tiêu. Chắc chắn không phải các Ngài cố gắng như vậy để tìm ra một học thuyết mới hầu thỏa mãn nhu cầu trí thức hay để tạo nên những vấn đề bàn cãi cho giới học giả. Lý do duy nhất là các Ngài cố tìm cho ra con đường giải thoát cho mình và giúp kẻ khác ra khỏi vòng sanh tử, khỏi cảnh trầm luân. Đức Phật giúp ta bằng Giáo lý của Ngài. Pháp của Ngài (Dhamma), trường tồn vĩnh viễn, là con đường giải thoát mà các vị Phật Tổ khác đã dạy trước Ngài. Lý vô ngã (Annatta), nằm trọn vẹn trong Pháp ấy. Giáo thuyết vô ngã không phải cái chi chỉ để thỏa mãn lý trí mà là một thực tế. Chân lý vô ngã là những gì mà hàng phàm tục như chúng ta chỉ có thể dùng lý trí nhận thấy thoáng qua nhưng mà các bậc thánh thì chứng nghiệm một cách đích xác.

(*) Theo Phật Giáo, chúng sanh do Danh và Sắc cấu thành. Ngoài hai phần, tinh thần (danh) và vật chất (sắc) Phật Giáo không nhìn nhận có những nguyên do huyền bí tạo nên một linh hồn bất diệt hay một bản ngã trường tồn.

Để biện minh rằng có đời sống tối đại hạnh phúc trên một thiên đàng trường cửu và có những cực hình vô tận trong một địa ngục vĩnh viễn, một linh hồn bất di bất dịch là tối cần. Nếu không có một linh hồn trường tồn bất diệt thì cái gì làm tội trên thế gian và cái gì phải chịu khổ hình ở địa ngục.

Nhà học giả trứ danh, Ông Bertrand Russel có viết: "Đúng lý ra ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác từ lâu đã tiêu tan như mây khói vì vật chất đã mất dần đặc tính cứng rắn và vững bền, mà linh hồn cũng đã mất một phần thần tính của nó. Tâm lý học vừa bắt đầu trở thành một ngành khoa học và trong tình trạng hiện hữu của Tâm lý học sự tin tưởng nơi một linh hồn trường cửu không thể đòi hỏi khoa học tán trợ".

Theo nhà học giả uyên bác, tác giả quyển "The Riddle of Universe" (Sự Bí ẩn của Vũ trụ): "Biện chứng Thần Linh Học chủ trương có một Đấng Tạo hóa thổi vào con người một linh hồn bất diệt (linh hồn của con người thường được xem là một phần của một Đại Hồn của Tạo hóa). Đó là một câu chuyện thần thoại.

"Biện chứng Vũ Trụ Luận cho rằng muốn tạo một thế gian điều hòa trong vòng trật tự tinh thần đạo đức, cần phải có một linh hồn trường tồn bất diệt. Đó là một giáo điều vô căn cứ.

"Biện chứng Chung Quả Luận chủ trương rằng do sự tiến triển không ngừng của con người để cải thiện vận mạng mình, những khuyết điểm của linh hồn phải được cải tiến mãi mãi trongđời sống và sau kiếp sống. Đó là một lối hiểu sai lầm của thuyết Sinh Vật Đồng Nhân (Anthropomorphisme) cho rằng tất cả sinh vật đều có những hành động và tư tưởng như người.

"Theo Biện Chứng Đạo Đức Luận những khuyết điểm và những tham vọng chưa được thỏa mãn trong đời sống phải được bổ khuyết và đền bù một cách công bằng và vĩnh viễn sau đời sống. Đó chỉ là một điều mong ước cuồng nhiệt.

"Biện Chứng Nhân Chủng Luận cho rằng sự tin tưởng nơi tính cách bất diệt của linh hồn cũng như sự tin thưởng nơi một Đấng Tạo hóa là một chân lý cố hữu trong toàn thể nhân loại. Đó hiển nhiên là một sai lầm.

"Biện Chứng Bản Thể Luận chủ trương rằng linh hồn đã là một thực thể vô hình và bất khả phân chia tất không thể bị liên quan đến sự vong hoại do cái chết gây ra. Điều này căn cứ trên quan niệm sai lạc của hiện tượng tâm linh, một ảo mộng của Duy Thần Luận.

"Tất cả những biện chứng kể trên cũng như tất cả những giả thuyết tương tự về bản ngã đã lâm vào tình trạng nguy ngập trong vòng mười năm nay và đã bị khoa học chỉ trích và bác bỏ hoàn toàn.

Một nhà Bác học khác, ông Hume, sau khi gia công tìm kiếm một linh hồn bất diệt đã viết trong quyển "Religion and Science" (Tôn giáo và Khoa học) như vầy: "Có vài triết gia tưởng tượng rằng trong mỗi chập tư tưởng chúng ta mật thiết nhận thức cái mà chúng ta gọi là ta và chúng ta cảm giác rằng cái Ta có thật và thật sự tồn tại. Các triết gia ấy, ngoài sự hiển nhiên của mọi luận chứng, cũng quả quyết rằng cái Ta hoàn toàn không biến đổi và không thể phân chia.

"Riêng về phần tôi, khi thâm nhập mật thiết vào cái mà tôi gọi là tôi thì luôn luôn tôi vấp phải một vài tri giác đặc biệt như nóng hay lạnh, sáng hay tối, thương hoặc ghét, vui hoặc buồn. Tôi chưa từng bắt được cái Tôi ngoài những tri giác ấy và tôi chưa hề chiêm nghiệm được cái gì ngoài tri giác …"

Về vấn đề linh hồn, Giáo sư William James có viết trong quyển "Principles of Psychology" (Những Nguyên tắc về Tâm lý học, trang 351): "…Cái Ta (dùng như một túc từ, complément) là một sự kết hợp do kinh nghiệm cấu tạo với sự vật đã được biết một cách khách quan. Vậy cái Ta (dùng như một chủ từ, subject) biết được sự vật ấy không thể là một sự kết hợp. Không thể dùng cái Ta ấy trong những mục tiêu thuộc về tâm lý và xem nó như một thực thể siêu hình không biến đổi, một linh hồn trường tồn bất biến cũng không thể xem nó như một nguyên lý, một bản ngã siêu việt vượt ra ngoài thời gian. Cái Ta chỉ là một tư tưởng biến đổi từng chập không một tư tưởng nào giống chập tư tuởng trước kế đó, nhưng luôn luôn thuận ứng theo chập tư tưởng trước để cùng chung hợp lại thành một tư tưởng riêng biệt.

Trên hai ngàn năm trăm năm về trước Đức Phật Gotama đã từng thuyết minh những điều này khi Ngài chu du hoằng pháp trong lưu vực sông Hằng (Gange).

Phật Giáo dạy một thứ Tâm lý học trong đó không có tâm linh. Phật Giáo giải thích rằng con người do danh (Nāma) và sắc (Rūpa) cấu tạo và hai phần nầy ở trong một trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối trường lưu bất tận.

Phần sắc (Rūpa) gồm có những năng lực và đặc tính phát sanh do bốn yếu tố: Nghiệp (Kamma), Tâm Vương (Citta), sự biến đổi của vật chất (Utu) và vật thực (Ahara). Sắc luôn luôn biến đổi, sanh rồi diệt từng chập và không ngớt.

Danh là phần quan trọng nhất trong guồng máy vô cùng phức tạp của con người. Danh do 52 Tâm Sở hợp thành. Thọ (Vedana), cảm giác, là một Tâm Sở. Tưởng (Sanna), tri giác, là một Tâm Sở khác. Năm mươi Tâm Sở còn lại gọi chung là Hành (Sankhara). Những tâm trạng ấy đều phát sanh trong Thức (Vinnana).

Bốn hiện tượng tâm linh ấy (Thọ, Tưởng, Hành, Thức) phối hợp với hiện tượng vật chất (sắc) tạo nên năm yếu tố là ngũ uẩn (Panca Khanda). Vật cấu tạo phức tạp ấy là con người.

Cá tính của mỗi người đều do sự phối hợp của năm uẩn ấy.

Để cho mọi người được hiểu dễ dàng đôi khi Đức Phật gọi toàn thể tiến trình của những hiện tuợng tâm vật lý ấy là cái TA (Atta) vì đó là danh từ ước định đã được thông dụng. Thực ra, trong biến đổi của danh và sắc chỉ có sự tiến trình là đồng nhất (không biến đổi) mà không có vật chất đồng nhất (không có cái chi là trường tồn bất biến).

TA VÀ CỦA TA

Những đứa con này của ta, tài sản kia của ta. Người thiểu trí khăng khăng cố chấp như thế nên phải đi đến chỗ bại vong. Trong khi chính bản thân này còn không phải của ta. Thì con nào là của ta, tài sản nào của ta?-- PHÁP CÚ (62)

Trong chương trước, chúng tôi cố gắng giải thích phần nào lý vô ngã trong Phật Giáo và dĩ nhiên đó chỉ là những điều nhận xét thô sơ mà chúng tôi thấy cần phải bổ túc để vấn đề được thêm đầy đủ và rõ ràng.

Trước tiên ta phải nhận định rằng lý vô ngã không phải là một lý thuyết suông mà là một Chân lý do chính Đức Phật dạy, mà Đức Phật là người đã thấy rõ chân tướng của sự vật. Khi giảng về lý vô ngã, Đức Phật không dùng những danh từ ức đoán hay nói một cách giả định mập mờ vì một lý lẽ rất giản dị là Giáo lý này không nhận thức được bằng lý trí mà hẳn là một sự chứng nghiệm trực tiếp.

Chúng ta nên biết rằng lý vô ngã phải được suy nghiệm trong mọi hành động hằng ngày của chúng ta. Lý vô ngã không phải cái gì chỉ đem lại cho ta những lợi ích trên đường học vấn cũng không phải cái gì mà ta phải thành kính giữ kín trong một ngăn nào trong trí óc.

Đức Phật hết lòng ước mong ta thể hiện Giáo lý ấy trong đời sống. Thực nghiệm, thử thách và sau cùng chính ta chứng nghiệm. Thực ra, phải đạt thành đạo quả của các bậc thánh mới chứng nghiệm được một cách đích xác. Tuy nhiên, trong lúc chưa được đến từng ấy chúng ta cũng có thể căn cứ trên kinh nghiệm bản thân để suy nghiệm và lĩnh hội phần nào.

Kinh nghiệm dạy rằng có rất nhiều chứng bệnh, tinh thần và thể xác, phát sanh do sự âu lo sợ sệt. Khoa y học tân tiến ngày nay đã xác nhận rằng nhiều chứng bệnh như bệnh tiểu đường, bệnh tăng huyết áp, bệnh ung thư dạ dày, v.v… có thể vì lo âu phiền não mà trở nên trầm trọng nếu không phải do lo âu phiền não sanh ra. Các bác sĩ cũng dần dần thiên về thuyết chữa các bệnh kể trên bằng những phương pháp thuộc về tinh thần như là tạo cho bệnh nhân một nếp sống tĩnh dưỡng tâm trí cho yên tĩnh.

Trong tất cả những nguyên do làm tinh thần mất yên tĩnh, trạng thái ôm ấp âu sầu lo sợ là nguy hiểm nhất. Tại sao ta lo sợ? Phân tích đến mức cùng tột chỉ có một câu trả lời: chúng ta lo sợ vì những tư tưởng "ta và của ta". Chúng ta trông mong đợi chờ, bồn chồn muốn cho ta và cho những gì ta yêu quý được chu toàn trong một thế gian biến đổi. Kẻ nào dùng cát để cất lâu đài trên bãi biển phải luôn luôn lo sợ sóng biển. Kẻ nào lấy tiền của làm vật bảo đảm phải luôn luôn làm nô lệ cho tiền của. Kẻ nào tìm lẽ sống trong công cuộc làm ăn và để hết tâm trí vào đấy như một việc nhất quyết phải thành tựu cho kỳ được, kẻ ấy không thể yên ổn trong lòng. Vậy là ta lo sợ cho "ta", cho tiền của ta, cho con cái ta, cho bạn bè ta, cho cái gì gọi là của ta. Ta cố giữ bền vững những gì vốn sẵn có tánh chất không bền vững.

Đức Phật không cho rằng mọi việc trên đời đều bền vững thường tồn. Vì lẽ ấy có người lập luận rằng Ngài bi quan. Nếu ta nói với một đứa trẻ đang cất nhà trên bãi biển rằng nhà ấy không thể tồn tại nó cũng cho là ta bi quan. Đức Phật mách bảo cho ta những gì chắc chắn là cao quý hơn sự bền vững mà kẻ thiểu trí cố tìm trong những hiện tượng vô thường. Ngài cho ta một phương pháp để thành tựu sự bền vững cùng tột, sự chu toàn tuyệt đối, vững chắc miên trường và hoàn toàn vĩnh viễn. Đức Phật dạy: "Không nên tưởng tượng rằng có một linh hồn hay một cái gì thường tồn trong danh và sắc. Tưởng như vậy là đi trên con đường lo âu và phiền não. Hãy nhận thức rằng tất cả đều là những hiên tượng vô thường và hãy cố gắng đạt cho kỳ được cái gì không biến đổi". Hằng ngày tưởng niệm lời dạy này là đã bước một bước tiến khá dài trên con đường "chánh đạo". Có thể ta không đắc được quả Niết Bàn ngay bây giờ hay trong chốc lát, nhưng ít nữa ta cũng có thể nhận định rằng không có chi bằng Niết Bàn và bớt lo sợ những biến đổi của cảnh giới chung quanh ta và sự vô thường của đời sống.

DU LỊCH

"Thật ít người qua được bờ bên kia, ngoài ra, chỉ quanh quẩn chạy trên bờ bên này". -- PHÁP CÚ (85)

Xác thân bằng thịt, máu và xương này chỉ là tạm bợ. Cái mà ta gọi là bản tánh cá nhân dính liền với thịt máu và xương ấy cũng chỉ là một hiện tượng tạm bợ, luôn luôn biến đổi. Trên thế gian này không có cái gì là trường tồn, không có cái gì gọi là "Linh hồn". Đức Phật dạy rằng cái mà ta gọi một cách ước định là chúng sanh hay là con người chỉ là kết quả của một sự phối hợp của nhiều hiện tượng trong một tiến trình và tiến trình ấy không bắt đầu khi con người sanh ra, không chấm dứt lúc chết mà luôn luôn tiếp diễn từ kiếp này sang kiếp khác, luôn luôn biến đổi.

Tất cả chúng ta đều đi đến đây trên một con đường thật dài. Không ai thấy được khởi điểm của con đường ấy. Mỗi chúng ta đều đã già, thật là già. Chúng ta già hơn mặt trời, mặt trăng và các tinh tú.

Đức Phật dạy rằng trong cuộc du lịch xa xôi của chúng ta, mỗi người trong chúng ta đã từng nếm trải tất cả các cảnh ngộ có thể tìm thấy "bên bờ bên này", chúng ta đã nếm đủ mùi trên thế gian ba giới này. Chúng ta đã có thương yêu và thù ghét, đã vui sướng và buồn khổ, đã sống ở mọi nơi, thấy mọi vật, làm mọi việc, nhiều thật nhiều lần. Và ta vẫn còn lập đi lập lại những công việc ấy mãi mãi. Nếu nhớ được những gì ta đã nếm trải trong dĩ vãng chắc ta không thể chịu nổi. Nhưng ta không nhớ. Vì lẽ ấy mà hết kiếp này sang kiếp khác chúng ta vẫn lập đi lập lại những việc đã cũ mềm. Hiện giờ chúng ta vẫn còn quanh quẩn chạy tới chạy lui và đùa giỡn trên bờ bên này.

Chúng ta chạy từ cảnh trời cao nhất đến cảnh khổ thấp nhất. Nếu có người nào, như Đức Phật chẳng hạn, khuyên ta nên chấm dứt những hành động ngu xuẩn và điên rồ của ta để cố gắng sang bờ bên kia, ắt ta không để ý đến.

Ngày nào ta còn muốn ở bờ bên này là ta còn ở. Nhưng sang bờ bên kia thì không dễ gì vì bờ bên kia là Niết Bàn của chư vị Phật, chư vị Độc Giác Phật và chư vị A-La-Hán. Muốn qua bờ bên kia ta phải không ngừng trưởng thành cũng như các Ngài đã không ngừng trưởng thành. Đó là cuộc du lịch duy nhất mà ta chưa từng tham gia và là cuộc du lịch duy nhất đáng được tham gia.

Khi đi từ một điểm này đến một điểm kia trên mặt quả địa cầu, chúng ta tưởng như vậy là du lịch. Thực ra, ta chỉ hành động như những con sâu bò quanh quẩn trong một quả cam thối. Người có nhiều tham vọng và nhiều tưởng tượng hơn mơ ước đi từ quả địa cầu này sang mặt trăng hay một hành tinh khác, nghĩ rằng đó mới thật là du lịch. Họ chỉ giống loài ruồi, lằn, bay từ quả cam thối này đến quả cam thối khác. Đức Phật dạy rằng trong dĩ vãng vô tận, chúng tađã có nhiều lần sống trên những quả cam thối ấy rồi. Những quả cam thối ấy vẫn còn ở bờ bên này và không có chi là mới lạ.

Ngoài ra, thật xa trên không trung, xa đến nỗi ta không thể quan niệm được khoảng đường có rất nhiều tinh tú, đếm hàng triệu triệu. Quanh mỗi tinh tú, các hành tinh vận hành như quả địa cầu vận hành quanh mặt trời. Với lòng ích kỷ sẵn có trong mỗi người chúng ta, ta sẵn sàng phủ nhận giả thuyết chủ trương có sự sống trên hành tinh, tại sao lại không có một loài người? Rất có thể có loài người trên ấy. Ví như có thì có gì khác lạ? Như vậy trên ấy chỉ có tham, sân, si như ở địa cầu này. Vậy ta thấy có cần phải lên trên ấy không? Ta có thấy cần phải đi xa thật xa để gặp lại những bộ mặt ngu xuẩn, nghe lại những tiếng xấu xa, ngửi lại những mùi hôi thối không? Riêng phần chúng tôi, chúng tôi không khi nào muốn tạo cho chúng tôi bao nhiêu phiền não và khó nhọc để gặp lại những điều bỉ ổi mà hằng ngày ở đây chúng tôi vẫn gặp.

Khoảng cách từ ta đến những điều xấu xa khỏi phải đo bằng cây số. Một quyển sách tốt, trong chốc lát, có thể đưa ta đến đó. Thiền định, nếu ta biết, cũng có thể đưa ta đến đó. Muốn thiền định có kết quả, sự yên lặng thật là tối cần. Dĩ nhiên, ta không nên ngồi bên đường sắt khi xe lửa chạy ngang, cũng không nên ngồi giữa phố phường thị tứ. Tâm an trụ dễ dàng trong sự yên lặng.

Đó mới là chuẩn bị để bắt đầu một cuộc du lịch mới mẻ, một cuộc mạo hiểm thích thú.

Mục tiêu của cuộc hành trình? - "Bờ bên kia"!

Cầu chúc may mắn.

-ooOoo-

Không phiền muộn, than khóc vì những lỗi lầm trong quá khứ
Không tò mò tìm hiểu tương lai
Hãy sống trong hiện tại
Nhờ
 đó sức khỏe sẽ được dồi dào.

Thắc mắc cho tương lai
Than khóc vì quá khứ
Là thái
 độ của người thiểu trí
Là cắt ngang ngọn cỏ xanh (mong tận diệt cỏ)

-- SAMYUTTA NIKA (Quyển I, Sagatha Vagga No. 10)

Nguồn: http://www.budsas.org

 

(1)đầu 2 3 4 [5]
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI