Thuyết Duyên Khởi và Thập Nhị Nhân Duyên Trong Phật Giáo

TKN. Nguyên Hương

Khi Tôn giả Mã Sinh (Assaji) đi khất thực trong thành Vương xá (Rājagaha) với dáng đi trầm tĩnh, trang nghiêm, tư cách của tôn giả đã làm cho một hành giả khác đang trên đường tìm chân lý  cảm mến và bị cuốn hút theo vị khất sĩ trang nghiêm. Người này đi theo và chờ đợi một thời cơ thích hợp để hỏi vị khất sĩ kia tu hành dưới sự hướng dẫn của ai mà có được tư cách đoan chính thánh thiện như vậy, Tôn giả Mã Sinh trả lời ông chỉ mới tu tập dưới sự hướng dẫn của Phật Cồ Đàm (Gotama Buddha). Khi được hỏi Pháp nào của Phật Gotama khiến ông giác ngộ, Tôn giả Mã Sinh trả lời: “ye dhammā hetuppabhavā tesa hetu Tathāgato āha tesañ ca yo nirodho, evavādī Mahāsamano.”[i] Chỉ mới nghe nửa bài kệ nói về pháp duyên khởi, “các pháp nào sinh khởi có nguyên nhân, các nguyên nhân đó đã được Như Lai nói đến cùng với sự đoạn diệt của chúng, như vậy là lời dạy của bậc Đại Ẩn Sĩ”, Xá Lợi Phất (Sariputta in Pali) liền giác ngộ, trở thành Bậc thánh nhập lưu (Sotapanna). Suốt mấy ngàn năm sau, câu nói của ngài Mã Sinh đã được các hàng Phật tử ghi khắc trên dĩa vàng (Pyu, Myanmar) và trên đá hoa cương (Bắc Ấn, Pakistan và Aphganistan) như là sự tóm tắt ý nghĩa của Phật Pháp. Đây chính là thuyết duyên khởi ở dạng tóm tắt nhất.

Duyên khởi có thể tóm tắt như sau: “Imasmiṃ sati, idaṃ hoti, imass’uppādā, idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati, idaṃ na hoti; imassa nirodhā, idaṃ nirujjhati. Do cái này có mặt, có cái kia, cái này hiện tướng, cái kia ra đời; khi không có cái này, cái kia cũng không có, khi cái này diệt, cái kia cũng không còn.” (M II.32; S II.28 v.v…). Trong một số pháp thoại (S II, 2:2) lý khuyên khởi được nói đến như là một đề tài quán chiếu khiến tất cả các vị Bồ tát trong quá khứ có được tuệ giác và thành Phật. Trong đêm giác ngộ, ngồi dưới cội Bồ đề, Đức Phật quán chiếu về Nhân Duyên như sau:

“Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già, chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già, chết”.

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già, chết có mặt. Do duyên sanh nên già, chết sanh khởi”.

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt…hữu… thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc…thức… hành… Do duyên gì hành sanh khởi?”

Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.

Như vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức…(như trên)…hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.” (S II, 10:2)

Lý duyên khởi sau đó đã được tổng hợp và hệ thống hóa thành 12 mắt xích gọi là Thập Nhị Nhân Duyên, cùng với Tứ Diệu Đế, nó là một triết lý chủ chốt của phật giáo. Trong một số pháp thoại, Đức Phật chỉ ra rằng bước đầu tiên để vào Trung Đạo (con đường mà Phật đã giác ngộ) chính là thấy lý duyên khởi. Sau đây là một pháp thoại như vậy:

Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.

Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.

Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú trước, không chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Ðây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana, là chánh tri kiến.

“Tất cả là có”, này Kaccàyana, là một cực đoan. “Tất cả là không có” là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.

Vô minh duyên hành; hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. [Theo bản dịch của HT Minh Châu, Tạp 12.19; Ðại 2,85c; S.ii,16]


Paṭiccasamuppāda: Duyên khởi có điều kiện, duyên hệ phát sinh (‘Dependent Origination’), là lý thuyết trình bày về các hiện tượng tâm –sinh-lý có điều kiện, lý thuyết này cùng với thuyết vô ngã (xem. anattā), cấu thành những điều kiện không thể thiếu được cho sự hiểu biết và chứng nghiệm đúng đắn về những lời dạy của đức Phật. Thuyết duyên sinh cho thấy sự điều kiện hóa và tính chất tùy thuộc của dòng chảy bất tận của các hiện hữu trong nhiều hình thức mà trong đời sống hằng ngày chúng ta vẫn quen gọi là bản ngã, người, thú, vv. Trong lúc thuyết vô ngã tiến hành phân tích bản chất của sự tồn tại thành những nhóm nhỏ, đến các nguyên tố, cho đến sự không có thật của các hiện tượng tâm sinh lý, lý thuyết duyên khởi, mặt khác, lại tiến hành bằng phương pháp tổng hợp bằng cách chỉ ra rằng tấp cả các hiện tượng cách này hay cách khác làm điều kiện lẫn nhau và ảnh hưởng lên nhau, do đó không có gì tồn tại một cách hoàn toàn độc lập hay tự nó có mặt mà không liên hệ đến các hiện tượng khác (Nyanatiloka 1972, p. 154). Sau đây là sự phân tích giáo lý này theo truyền thống nguyên thủy thuộc ngữ hệ Pali.

Paṭicca (ind. & abs.), nhân duyên, bởi vì, vì lẽ; samuppāda = phát sanh, xuất phát. Theo nghĩa đen thì danh từ nầy hàm ý “phát sanh bởi vì”, hoặc “tùy thuộc phát sanh”, hay “duyên khởi tùy thuộc”, và ý nghĩa nầy áp dụng cho toàn thể công thức, vốn bao gồm mười hai nhân và quả liên quan với nhau, gọi là paccayapaccayuppanna. S.Z. Aung phiên dịch danh từ Paṭiccasamuppādanaya là “Ðịnh Luật phát khởi do nguyên nhân”.

Paṭicca-samuppāda [paṭi + i + sam + uppāda, BSk. prātītyasamutpāda] Pháp Tùy Thuộc Phát Sanh, hay Duyên Khởi, Thập nhị nhân duyên. “Sinh khởi trong một tiến trình có điều kiện, duyên khởi, tiến trình nhân quả. Thập Nhị Nhân duyên, vòng luân hồi thường được diễn tả là một chuỗi phản ứng mang tính nhân quả bao gồm 12 mắt xích, bắt đầu từ ‘vô minh duyên hành’, nhưng trong một số pháp thoại, chỉ nêu ra 6 hoặc 10 mắt xích (D II.30; S II.104) bắt đầu từ ‘khổ’ lần ngược lên nguyên nhân do đâu có khổ. –Theo chiều thuận, bắt đầu từ những tạo tác (hành) có nền tảng là vô minh, theo sau là một chuỗi tiến trình nhân quả tương quan dẫn đến luân hồi khổ đau (dukkha-khandhassa samudaya hontu) [S II.2]. Vô minh (1. avijjā) là sự không hiểu biết về chân lý trong cuộc sống (Tứ Diệu Đế) do đó chúng sinh thả mình theo những phản ứng tự nhiên có tính thiện–ác. Những phản ứng tạo tác này (hành-2. saṅkhārā) được thức (3.  viññāṇa) ghi nhận và mã hóa trong tâm thức. Từ kho tàng bí mật này danh –sắc (4. nāma-rūpa) xuất hiện như phôi thai, và từ đó phát triển thành các giác quan (5. salāyatana), các giác quan này tiếp xúc (6. phassa) với các đối tượng tạo ra cảm xúc hay thọ (7. vedanā). Cảm xúc làm sinh khởi phản ứng thích hay không thích gọi là ái (8. taṇhā), các loại phản ứng có tính bản năng thủ giữ (9. upādāna) này được tích trữ trong tiến trình trở thành gọi là hữu (10. bhava) và đồng hóa là ‘ta’ (11. jāti). Đã sinh (jāti) thì có già, bệnh, chết, sầu, khổ, lo âu, và bi não (12. jarā-maranaṃ-soka-domanassa-dukkha-upāyāsa), kết thành một khối khổ đau trùng điệp.–Theo chiều nghịch (paṭiloma), khi đã có minh (vijjā) hay trí tuệ, hành (động cơ cá nhân) diệt. Do hành diệt, thức diệt; thức diệt, danh-sắc diệt; danh sắc diệt, lục nhập diệt; lục nhập diệt, xúc diệt; xúc diệt, thọ không còn; thọ diệt, ái diệt; ái diệt khiến thủ giữ diệt; thủ diệt, hữu không còn; hữu diệt, sinh diệt; sinh chấm dứt, già, bệnh và khổ não sầu bi cũng đoạn tận. Kết thúc vòng luân hồi sinh tử.[ii]

Quả thật, toàn bộ hệ thống A Tỳ Đàm (Abhidhamma Piṭaka = AP), không có gì khác hơn là chỉ để giải quyết một vấn đề duy nhất liên quan đến hai giáo lý căn bản trong Đạo Phật là: hiện tượng – hàm nghĩa vô ngã và điều kiện của mọi hiện hữu. Phương pháp thứ nhất thì mang tính phân tích được áp dụng trong bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅganī), quyển sách thứ nhất của AP; phương pháp thứ hai mang tính tổng hợp, thể hiện trong bộ Vị Trí (Paṭṭhāna), quyển cuối của AP. Bản tóm lược của hai tác phẩm này xem “Guide I and VII”. Mặc dù vấn đề này đã được các học giả Tây phương để tâm đến khá nhiều nhưng thật đáng tiếc, hầu hết họ đều hiểu nhầm mục đích và ý nghĩa thực sự của giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên hay Duyên Khởi, và ngay cả 12 mắt xích trong chuỗi nhân quả tương quan này bị dịch sai. –Công thức duyên khởi như sau: 1. Avijiā-paccayā saṅkhārā: “Duyên hệ bởi vô minh, các hành (sinh khởi)” nghĩa là ý chí trở thành (cetanā), hay ‘tạo tác các nghiệp’. 2. Saṅkhāra-paccayā viññāṇaṃ: “hành duyên hệ đến thức” (những gì đã tạo tác trong quá khứ) là điều kiện cho tâm thức (trong hiện tại).” 3. Viññāṇa-paccayā nāma-rūpaṃ: “Thức duyên hệ đến danh sắc” (nāma-rūpa), i.e các hiện tượng tâm-sinh-vật lý mà chúng ta gọi là các kiếp sống cá thể,“. 4. Nāma-rūpa-paccayā saḷāyatanaṃ: “Danh sắc duyên hệ đến sáu căn cứ (lục nhập)”, nghĩa là 5 giác quan và tâm thức là giác quan thứ sáu. 5. Saḷāyatana-paccayā phasso: “Sáu căn cứ duyên hệ đến xúc” (xúc là ấn tượng trên các giác quan). 6. Phassa-paccayā vedanā: “Xúc duyên hệ đến cảm giác (thọ)” 7. Vedanā-paccayā taṇhā: “Thông qua cảm giác, ái (sinh)”. 8. Taṇhā-paccayā upādānaṃ: “Ái duyên hệ đến thủ giữ”. 9. Upādāna-paccayā bhavo: “Vì có thủ giữ nên có tiến trình hiện hữu” bao gồm trong sự chủ động hay thụ động tham gia trong tiến trình của đời sống (kamma-bhava) và hệ quả tất yếu là tái sinh (upapatti-bhava) theo dòng chảy của duyên nghiệp. 10. Bhava-paccayā jāti: “Hiện hữu duyên hệ đến sinh”, nghĩa là những gì đã và đang tạo tác sẽ cho ra đời một kết quả nào đó (một nhân cách hay một kiếp sống). 11. Jāti-paccayā jarā maraṇaṃ, etc.: “Do có sinh nên có già, chết, (và đi kèm với chúng là buồn đau, than khóc, khổ sở dày vò nung nấu). Toàn bộ khối khổ đau sinh khởi như vậy. (1.)“Ý chí trở thành” (cetanā) và tạo tác (abhisaṅkhāroti) các nghiệp thiện ác (kamma) dưới ảnh hưởng của vô minh trong mắt xích thứ nhất (avijjā-paccayā saṅkhārā), bao gồm các nghiệp thiện (puññābhi-kamma), bất thiện (apuññābhi-k.) và bất động (anejābhi-k.) qua thân (kāya), khẩu (vācī), ý (mano).  .—Trở lại với vấn đề một số học giả hiểu sai chữ kamma (nghiệp), trong triết học phật giáo, Kamma có nghĩa là hành động có chủ ý (xem Kamma cetanā) đem lại những hậu quả tốt, xấu hay bất định, nó không mang ý nghĩa là kết quả tiền định. Hậu quả của các hành động có thể được kinh nghiệm ngay trong đời này hay (những) đời sau. Phước hành (puññābhi-saṅkhārā) là những hành động thiện xảo có tác ý tốt; phi phước hành (apuññābhisaṅkhārā.) là những hành động không thiện xảo và có tác ý không tốt. –Nay, trong cách nào hành (nghiệp) bị điều kiện bởi vô minh?  Đối với những bất thiện nghiệp được tạo tác có gốc rễ trong tham –sân –si (lobha, dosa, moha), luôn luôn có si làm nền tảng. Ở đây si chính là sự thiếu hiểu biết về tính chất nhân quả của mọi hành động, do đó nó tạo điều kiện cho ác hành mà không thấy sự nguy hiểm mà quả của ác nghiệp đem lại. Như vậy, si là điều kiện đồng sinh của ác hành hay phi phước hành (sahajāta-paccaya), kết hợp (sampayutta-paccaya), có mặt (atthi-paccaya), vv. Hơn nữa si còn có thể làm điều kiện theo cách của hỗ trợ tiên quyết (upanissaya-paccaya), nếu, cho ví dụ, si kết hợp với tham dẫn dắt một người đi đến hành động ác như giết hại, trộm cắp, tà dâm, vv. Do đó, trong những trường hợp trên, si là một yếu tố ‘hỗ trợ tiên quyết có tính tự nhiên’ hay ‘trực tiếp đưa đẩy’ (pakati-upanissaya-paccaya). Nó cũng có thể trở thành điều kiện gián tiếp, theo cách của đối tượng (ārammaṇūpanissaya-paccaya) của sự suy nghĩ. Điều này xẩy ra, nếu, cho ví dụ, ai đó nhớ đến một sự thụ hưởng dục lạc trong quá khứ kết hợp với vô minh, và làm như vậy, những tư tưởng bất thiện sinh khởi, như tham muốn, tiếc nuối, vv. –Đối với thiện hành (nghiệp) (kusala) vô minh chỉ là một điều kiện hỗ trợ tiên quyết (upanissaya), không phải là điều kiện đồng sinh (sahajāta), vv., bởi vì thiện tâm trong sát na đó, dĩ nhiên, không thể kết hợp với bất thiện pháp, như là vô minh hay si tâm sở. Vô minh là một ‘điều kiện hỗ trợ tự nhiên hay trực tiếp khuyến khích (pakatupanissaya), cho ví dụ, nếu, được khích lệ bởi vô minh và tính tự đại, người ta nỗ lực để đạt đến các thiền định, và như vậy cuối cùng, bằng sự bền chí, đạt đến những pháp cao thượng. (2.) “Hành duyên hệ đến thức” (Saṅkhāra-paccayā viññāṇaṃ). Sự xác nhận này dạy rằng thiện hành và bất thiện hành là nguyên nhân của sự tái sinh trong tương lai theo duyên cảnh thích hợp với nghiệp đã tạo tác (gati). Những nghiệp đã tạo tác trong kiếp quá khứ tác động sự nảy nở của bào thai trong tử cung của người mẹ hình thành nên tập hợp 5 “thủ uẩn” gọi là kiếp sống mới (x. khandha), mà ở đây nó được đại diện bởi thức tái sinh (viññāṇa= paṭisandhi citta). Tất cả các nghiệp -tâm quả (vipāka, tuy nhiên, như nhãn thức (cái thấy), vv., cũng như tất cả các hiện tượng tâm lý kết hợp với nó (thọ, vv.), thì thuộc về nghiệp trung tính. Nó cũng nên được hiểu rằng ngay từ sát na thứ nhất của sự thụ thai trong tử cung, thức (như là kết quả tổng thể của tất cả các nghiệp đã tạo tác) lập tức hoạt động. Trong Nidāna-saṃyutta (S. XII, 51): “Một khi vô minh (1) và thủ chấp (9) bị tận diệt, thì không có phước hay phi phước, cũng không bất động hành (2=10) đựơc tạo ra, và như vậy thức (3=11) sẽ không sinh khởi trở lại trong tử cung.” Và nữa: “Trong trường hợp nếu thức không xuất hiện trong tử cung người mẹ, có thể nào trong trường hợp này danh và sắc (4) sinh khởi?” (3.) “Qua thức, danh sắc được điều kiện hóa” (viññāṇa-paccayā nāma-rūpani). Định đề này hàm ý rằng thức tái sinh qui định tiến trình sinh khởi và phát triển của các hiện tượng tâm sinh lý của kiếp sống. Thuật ngữ ‘danh’ (nāma) nên được hiểu là các hiện tượng tâm lý kết quả (vipāka) như thọ (vedanā), tưởng (saññā), hành (cetanā: không tự nguyện tạo nghiệp được hàm ý ở đây), thức xúc (phassa), tác ý (manasikāra) (M. 9; S. XII, 2). Đối với 7 hiện tượng tâm lý căn bản không thể thiếu kết hợp với mọi trạng thía của tâm thức, xem. nāma. Khi nói đến sắc (rūpa) nó có nghĩa là 4 đại chủng hay yếu tố tạo nên vật chất (x. dhātu) và vật chất dựa trên đó (x. khandha, I). –Danh (nāma) hay tâm tính thì luôn luôn bị điều kiện bởi tâm thức (viññāṇa) theo kiểu đồng sinh (sahajāta), hỗ tương (aññamañña),kết hợp (sampayutta), vv., bởi vì bốn tâm uẩn luôn luôn đi kèm với nhau tạo thành một đơn vị không thể tách rời. –Tâm thức (viññāṇa) làm duyên cho sắc (rūpa) theo cách của sự đồng tồn tại chỉ trong khoảng khắc thụ thai, ngay sau đó, nó làm điều kiện theo kiểu hậu sinh duyên (pacchājāta-paccaya; paccaya 11) và dưỡng chất (āhāra), nghĩa là như một yếu tố hỗ trợ. (4.) “danh sắc làm duyên cho sáu xứ (lục nhập)” (nāma-rūpa paccayā salāyatanam). Sáu căn bao gồm 5 giác quan sinh-vật lý và giác qua thứ sáu là tâm thức (manāyatana). Danh (nāma; s. 3) là thuật ngữ để chỉ các hiện tượng tâm lý làm duyên cho 5 giác quan sinh-vật lý theo cách hậu sinh; và nó duyên cho tâm thức theo cách yếu tố kết hợp không thể thiếu trong hiện tượng đồng sinh. Sắc (rūpa), đây chính là 4 yếu tố hay chủng đại, làm điều kiện cho 5 giác quan đầu theo cách hỗ trợ (nissaya); và sắc (năm giác quan sinh-vật lý) duyên cho tâm thức (nāma) theo cách hô trợ và tiền sinh duyên (purejāta-paccaya). (5.) “Ấn tượng (xúc) được điều kiện bởi sáu xứ” (Saḷāyatana-paccayā phasso), vì nếu không có các căn hay 5 giác quan thì không thể nào có sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài (paṭighā-samphassa), và nếu không có tâm thức thì cũng không có sự nhận thức các ý tưởng (adhivacana-samphassa).—Như vậy 5 căn vật lý chính là điều kiện cho 5 ấn tượng đến từ các giác quan theo cách hỗ trợ (nissaya) và tiền sinh (purejāta), trong lúc đó căn thứ sáu hay tâm thức lại duyên cho thức xúc theo cách đồng sinh, kết hợp và hỗ tương, vv.  (6.) “Cảm xúc (thọ) bị điều kiện bởi ấn tượng” (Phassa-paccayā vedanā), i.e. xúc giác và ấn tượng làm điều kiện cho cảm thọ đi kèm theo cách đồng sinh, kết hợp, hỗ tương, vv. (7.) “Cảm xúc làm duyên cho tham ái” (Vedanā-paccayā taṇhā). Bất cứ thọ nào (là kết quả của nghiệp quá khứ), thích thú hay khó chịu, hay trung tính, thuộc về thân hay thụôc về tâm, quá khứ hay hiện tại đều có thể là điều kiện quyết định cho tâm tham ái sinh khởi theo cách của đối tượng (ārammanūpanissaya). Ngay cả các cảm xúc đau đớn trên thân hoặc tâm đều có thể làm điều kiện quyết định cho tâm tham, như là mong muốn thoát khỏi nó, đó là điều kiện hỗ trợ quyết định theo cách của đối tượng (ārammanupanissaya). (8.) “Qua tham ái là thủ chấp” (Taṇhā-paccayā upādānaṃ). ‘Thủ chấp là hình thức tăng trưởng của tham ái, nó bao gồm bốn loại: (1) thủ chấp vào dục lạc, (2) thủ chấp vào kiến giải sai lầm (kiến chấp), (3) thủ chấp vào các hình thức lễ bái và đạo đức (giới cấm thủ), (4) thủ chấp vào bản ngã (ngã thủ). (9.) “Thủ làm duyên cho hữu, tiến trình trở thành” (Upādāna-paccayā bhavo), i.e. các nghiệp thiện và bất thiện chủ động của tiến trình trở thành (kamma-bhava), cũng như các nghiệp quả (vipāka) của tiến trình bị động, được gọi là tiến trình tái sinh (upapatti-bhava). Tiến trình tạo nghiệp (kammabhava) bao gồm năm nguyên nhân chính yếu: vô minh (avijjā), hành (saṅkhārā), tham ái (taṇhā), thủ chấp (upādāna) và vận động tạo tác (kammabhava) [x. 1, 2, 8, 9, 10 của biểu đồ]; tiến trình sinh hữu (upapatti-bhava) bao gồm 5 nghiệp quả [x. 3-7 của biểu đồ]. Ở đây, tiến trình nghiệp, nói đúng hơn là tên chung cho tác ý tạo nghiệp (kamma-cetanā) và tất cả các hiện tượng tâm lý kết hợp với nó, trong lúc đó hành (mắt xích thứ 2) là để chỉ tác ý (x. āyūhana). Tuy nhiên, cả hai mắt xích thứ 2 và 10, trong thực tế chỉ chung một vấn đề, đó là nghiệp là nguyên nhân của tái sinh, như chúng ta sẽ thấy trong mắt xích thứ 10. Thủ chấp (upādāna) có thể là một trợ duyên cho yếu tố hỗ trợ quyết đinh (upanissaya) cho nhiều loại nghiệp thiện và bất thiện. Ái thủ (kāmūpādāna), i.e. là dính mắc vào đối tượng cho cảm giác sung sướng (hay khổ đau) có thể là trợ duyên giết người, trộm cắp, thông dâm, nói dối, vv. Thủ chấp vào lễ nghi hình thức (Giới cấm thủ, sīlabbatūpādāna) có thể dẫn đến tự mãn, cực đoan, độc ác, vv. (10.) “Hữu làm duyên cho sinh” (Bhava-paccayā jāti), nghĩa là qua các tạo tác thiện và bất thiện, nghiệp được tích trữ (kamma-bhava) tạo duyên cho tiến trình sinh (upapatti-bhava). (11.) “Vì có sinh nên có già và chết” (jātipaccayā jarā-maraṇaṃ).

Đức Phật nói (D. 15): “Sâu sắc, Ānanda, là định luật duyên khởi, nó biểu hiện rất sâu sắc. Vì chúng sinh không thấu hiểu, không suy xét, không quán chiếu về định luật này cho nên thế giới này giống như một tổ kén, như cuộn chỉ rối, một đống tơ vò, và con người không thể thoát ra khỏi cảnh giới thấp hèn, không thoát ra khỏi tình trạng khổ đau nhục hình, mãi trôi lăn trong sinh tử luân hồi.” Và nữa, trong (M. 28): “Những ai thấu hiểu định luật duyên khởi, thấu hiểu Pháp; và những ai thấu hiểu Pháp thì thấu hiểu định luật duyên khởi”.

Sách tham khảo:

  1. Nyanatiloka: Buddhist Dictionary, the Manual of Buddhist Terms and Doctrines; 3rd edition BPS 2002.
  2. Rys Davids and Stedes: A Dictionary of pali Language; PTS 2002.
  3. Malalasekera: A Dictionary of Pali Proper Names.
  4. W.E Soothill & Lewis Hodous: A Dictionary of Chinese Buddhist Terms; Motilal Banarsidass Publishers, Delhi 2000.

Bảng viết tắt:

A. Aguttara Nikaya, Tăng Chi Bộ Kinh

AA. Aguttara Atthakatha, Chú giải Kinh tăng chi

abs. Abstract, từ trừu tượng

Ap. Appadana, Truyền kỳ, những câu chuyện về lịch sử các vị thánh Tăng- Ni.

BPS. Buddhist Publication Society, Hội xuất bản Phật giáo (Sri Lanka)

BSk. Buddhist Sanskrit

D. Dīgha Nikaya, Trường Bộ kinh

DA.=Sumangala Vilāsinī, Chú giải Trường Bộ Kinh, 3 vols. (P.T.S.).

DhA.=Dhammapadatthakathā, Chú giải Pháp cú, 5 vols. (P.T.S.)

ind. Indeclinable, từ không biến cách

M. Majjhima Nikaya, Trung Bộ Kinh

P.T.S. Pāli Text Society, Hội nghiên cuaứ Kinh điển Pali (London)

Ps. Paṭíambhidā Magga, Vô Ngại Đạo Giải.

S. Samyutta Nikaya, Tương ưng Bộ Kinh

Vin. Vinaya Pitaka, Tạng Luật

ThagA. Theraghatha Atthakatha, Chú Giải Trưởng lão Kệ.

Ayya Dhammananda – SC Nguyên Hương

Santi Forest Monastery, 100 Coalmines Road

Po Box 132, Bundanoon, NSW 2578, Australia

Mùa An cư 2552 (Aug. 2009)


[i]Ye dharma hetuprabhavā hetuṃ tesaṃ Tathāgato hi avadat tesaṃ ca yo nirodho evaṃ vādī mahāśramaṇaḥ (DhA.i.73 ff.; AA.i.88 ff.; ThagA.ii.93 ff. Ap.i.15ff.); câu chuyện về hai vị trưởng tử của Như Lai đến với Phật pháp được ghi lại trong Vin.i.38ff.

[ii] Tham khảo Vin I.1 sq.; M I.190, 257; S I.136; II.1 sq., 26 sq., 42 sq., 70, 92 sq., 113 sq.; AI.177; V.184; Sn. 653; Ud 1 sq.; Ps I.50 sq.; 144; Nett 22, 24, 32, 64 sq.; DA I.125, 126; M III.63; Nd1 171; D III.212.

Lên Đầu Trang