TỊNH LAN AN NHÃ - Bệnh viêm khớp dạng thấp và cách điều trị
  • CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC
 

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh phổ biến nhất trong số các bệnh về khớp. Là một bệnh mang tính chất xã hội vì sự thường có, vì sự diễn biến kéo dài mặc dù được điều trị và còn bởi vì hậu quả cuối cùng sẽ dẫn đến sự tàn phế của người bệnh.

Bệnh VKDT gặp ở mọi nơi trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh chung theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới vào khoảng từ 0,5 - 3% dân số (ở người lớn). Tại nước ta, bệnh VKDT chiếm tỷ lệ 0,5% trong nhân dân và 20% trong số các bệnh nhân mắc bệnh về khớp điều trị ở bệnh viện. Có thể nói VKDT là bệnh của phụ nữ tuổi trung niên, vì 70-80% bệnh nhân là nữ và 60-70% có tuổi trên 30. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp.

Bệnh có diễn biến kéo dài nhiều năm, phần lớn có tiến triển từ từ tăng dần, nhưng có tới 1/4 trường hợp có tiến triển từng đợt, có những giai đoạn lui bệnh rõ rệt. Rất hiếm thấy trường hợp lui dần rồi khỏi hẳn.

VKDT là một loại bệnh hệ thống mà nguyên nhân vẫn còn đang là vấn đề được bàn luận. Người ta nhận thấy có sự phối hợp giữa những người bị VKDT với yếu tố HLA - DR4 (một loại kháng nguyên phù hợp tổ chức); ngoài ra, yếu tố di truyền hay môi trường cũng có ảnh hưởng nhiều tới bệnh sinh và tiến triển của bệnh.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, nhưng dấu hiệu quan trọng nhất biểu hiện tại khớp đó là: sưng, đau có tính chất đối xứng các khớp nhỏ như khớp cổ tay, bàn ngón tay; khớp cổ và bàn ngón chân kèm theo dấu hiệu "phá gỉ khớp buổi sáng", nghĩa là sau một đêm, buổi sáng ngủ dậy, người bệnh thấy các khớp của mình bị dính cứng lại, cử động rất khó khăn. Sau một lúc cử động nhẹ nhàng, xoa bóp... các khớp mới "mềm" dần, và sau đó mới cử động được bình thường. Các triệu chứng đau có thể kéo dài (khác với triệu chứng đau khớp thoáng qua trong bệnh thấp khớp cấp - hay thấp tim), cũng có khi tự hết hoặc dưới tác động của các thuốc chống viêm - giảm đau. Bệnh thường tái đi, tái lại nhiều lần; nhất là khi thay đổi mùa, thay đổi thời tiết... dần dần dẫn đến dính, cứng các khớp và gây tàn phế cho người bệnh.

Chính vì đặc điểm diễn biến kéo dài của bệnh nên việc điều trị VKDT phải mang tính chất lâu dài, bền bỉ.

Nguyên tắc điều trị chung:

- Việc điều trị phải kiên trì, liên tục thường là suốt cuộc đời người bệnh.

- Phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa, vật lý, chỉnh hình, phục hồi chức năng.

- Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn: nội trú, ngoại trú và tập luyện phục hồi chức năng.

- Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, bệnh nhân, gia đình người bệnh; giữa cơ sở điều trị với điều dưỡng, phục hồi chức năng và tái giáo dục nghề nghiệp.

Tóm lại, việc điều trị VKDT là vấn đề mang tính chất xã hội, liên quan đến nhiều chuyên khoa, nhiều ngành khoa học. Các thuốc điều trị bệnh VKDT nhìn chung có rất nhiều tác dụng phụ, do vậy việc điều trị phải được theo dõi chặt chẽ; tuân thủ các chống chỉ định khi dùng thuốc; kịp thời thông báo cho bác sĩ nếu có những biểu hiện bất thường.

Các phương pháp điều trị có thể được chia ra:

- Các thuốc chống viêm, giảm đau

- Điều trị theo cơ chế bệnh sinh

- Các phương pháp vật lý và ngoại khoa.

Việc điều trị bệnh cụ thể phải tùy thuộc vào từng giai đoạn tiến triển khác nhau của bệnh. Mỗi giai đoạn khác nhau, đòi hỏi các thuốc và những biện pháp hỗ trợ khác nhau.

Các thuốc chống viêm, giảm đau:

Đây là nhóm thuốc cơ bản trong điều trị các bệnh khớp nói chung và bệnh VKDT nói riêng. Gồm có :

- Aspirin (axit salicilic) và các dẫn chất của nó: thuốc này có đặc điểm, nếu dùng liều thấp và trung bình sẽ có tác dụng giảm đau, hạ nhiệt, chống kết vón tiểu cầu; liều cao có tác dụng chống viêm.

Liều dùng: nếu để giảm đau đơn thuần dùng 0,5-1g/ngày (khi bệnh nhân chỉ có dấu hiệu đau đơn thuần); nếu để chống viêm dùng liều từ 2-4g/ngày (khi có sưng, nóng khớp kèm theo sốt...). Thuốc phải được uống lúc no để tránh tác dụng phụ trực tiếp trên niêm mạc dạ dày.

Không dùng thuốc ở những bệnh nhân bị bệnh viêm - loét dạ dày, tá tràng hoặc có tiền sử dị ứng với aspirin.

- Các thuốc giảm đau không  steroid: đây là nhóm thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị VKDT, gồm rất nhiều nhóm khác nhau và đều có tác dụng chống viêm, giảm đau với các mức độ khác nhau. Trước đây, tất cả các thuốc nhóm này đều có tác dụng phụ bất lợi trên đường tiêu hóa, đặc biệt có thể gây loét, thủng, xuất huyết đường tiêu hóa. Ngày nay, đã có thêm ngày càng nhiều nhóm thuốc mới, tác dụng chọn lọc hơn, ít tác dụng phụ hơn trên đường tiêu hóa. Tuy nhiên, khi sử dụng nhóm thuốc này vẫn phải luôn luôn hết sức thận trọng ở những người có tiền sử bị viêm - loét dạ dày - tá tràng và thuốc phải luôn được uống sau khi ăn no.

+ Các thuốc có ảnh hưởng đến dạ dày tá tràng hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến: diclofenac (biệt dược voltarel) ống 75mg; viên 25, 50, 75 và 100mg; đạn đặt hậu môn 100mg; tilcotil viên và ống 20mg; profenid viên, ống 150mg.

+ Các thuốc có tác dụng chọn lọc, ít ảnh hưởng tới đường tiêu hóa hơn (hay còn có tên gọi - các thuốc ức chế chọn lọc Cox 2) : thuốc đầu tiên là mobic viên 7,5mg, ống 15mg; các thuốc ra đời sau mobic có tác dụng chọn lọc cao hơn như  celecoxib (biệt dược celebrex)...

- Các thuốc steroid: các thuốc nhóm này có tác dụng chống viêm rất mạnh, đồng thời cũng có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Do vậy thuốc chỉ được dùng trong những trường hợp cấp tính nặng mà các thuốc nhóm không steroid không đạt hiệu quả; liều lượng thuốc nếu dùng kéo dài phải thấp nhất có thể kết hợp với theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Các thuốc hay dùng: dạng tiêm như: solu-medrol lọ 40mg; hydrocortisol lọ 125 mg; depersolon ống 30mg... Dạng viên uống như prednisolon viên 5mg, dexamethasol viên 0,5mg; medrol viên 16mg...

Các thuốc điều trị theo cơ chế bệnh sinh: chủ yếu là các thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch. Do cơ chế của bệnh VKDT là bệnh tự miễn (nghĩa là cơ thể sinh ra kháng thể chống lại chính bản thân mình - nên gọi là tự miễn). Các thuốc này chỉ được dùng trong những trường hợp nặng và trơ với các loại thuốc điều trị nhóm khác. Các thuốc hay dùng là clorambucil viên 2mg, azathioprin viên 50mg, cyclophosphamid viên 50mg... Các thuốc nhóm này có tác dụng phụ rất mạnh trên máu và cơ quan tạo máu, do vậy khi dùng phải được theo dõi hết sức chặt chẽ.

Điều trị vật lý và ngoại khoa:

- Điều trị ngoại khoa được chỉ định trong hai trường hợp: cắt bỏ màng hoạt dịch khi bệnh chỉ còn khu trú ở một mình khớp gối và phẫu thuật chỉnh hình để phục hồi lại chức năng (thay thế bằng khớp nhân tạo bằng chất dẻo hay kim loại).

- Điều trị vật lý đối với bệnh VKDT là một yêu cầu bắt buộc nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các di chứng, nhằm giáo dục lại khả năng lao động nghề nghiệp cho bệnh nhân. Điều trị vật lý bao gồm điều trị bằng điện (điện xung, điện phân...); bằng tay (xoa bóp phục hồi chức năng, day bấm huyệt...), nước khoáng (tắm hoặc ngâm nước khoáng nóng, tắm bùn...) kết hợp với các biện pháp tập vận động thụ động và chủ động.

(Theo suckhoedoisong)

Điều trị bệnh lý khớp xương theo YHCT

 

TS. Nguyễn Thị Bay

Khoa Y học Cổ truyền ĐHYD TP. HCM

I. Quan niệm của YHCT về bệnh khớp xương

            YHCT quan niệm tất cả các bệnh có đau nhức ở khớp xương, có sưng nóng đỏ hay chỉ tê, nặng ở tại khớp đều nằm trong phạm trù chứng tý hay bệnh tý. Tý có nghĩa là tắc nghẽn không thông.

            Quan niệm về bệnh sinh:

            - Do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong – Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc – cơ – khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.

            - Do chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày, hay do người già các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây nên đau. Vì vậy khi chữa các bệnh về khớp, các phương pháp chữa theo YHCT đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân ở xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và đề phòng chống lại các hiện tượng báo động sự tái phát của bệnh khớp xương.

            Quan niệm về chẩn đoán:

            - YHCT chẩn đoán bệnh dựa trên quan sát, hỏi và thăm khám người bệnh, riêng đối với bệnh lý khớp xương, dựa trên nguyên nhân gây bệnh tùy thuộc vào biểu hiện chứng trội mà chẩn đoán bệnh như: biểu hiện đau không cố định, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, kèm theo sợ gió, nổi mẩn ngứa… thì được chẩn đoán là phong tý và như thế sẽ có nhiệt tý, thấp tý, hàn tý…

            - Ngoài ra, việc chẩn đoán còn dựa trên các chức năng tạng phủ của cơ thể, tùy thuộc vào triệu chứng sẽ có chẩn đoán tạng bệnh kèm theo như can thận hư, tâm tỳ hư…

            - Trên lâm sàng, thường bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng phối hợp, ít khi tách bạch từng biểu hiện riêng biệt, nên thực tế lâm sàng thường có các chẩn đoán bệnh lý như: phong hàn thấp tý, phpng thấp nhiệt tý, chứng tý can thận âm hư…

            Quan niệm về điều trị:

            - Do quan niệm sưng – đau khớp xương là do tắc nghẽn sự vận hành của khí huyết, và do chức năng tạng phủ suy yếu ảnh hưởng đến việc tạo ra khí huyết làm cho khí huyết giảm sút không nuôi dưỡng cân mạch đầy đủ gây ra đau nhức khớp xương nên việc điều trị nhằm vào mục tiêu giải tỏa sự tác nghẽn, đuổi nguyên nhân gây bệnh ra ngoài và bổ dưỡng khí huyết - mạnh gân xương.

            - Các phương pháp điều trị bao gồm từ không dùng thuốc như: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu, đến việc dùng thuốc vào điều trị bên ngoài như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau đến uống trong, sử dụng các loại thực vật, động vật và khoáng chất vào điều trị.

            - Trong việc điều trị, các thầy thuốc YHCT còn chú ý đến bệnh mới mắc hay bệnh đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần. Nếu nới mắc thì dùng các phương pháp để loại bỏ yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp) là chính, nếu bệnh lâu ngày hay tái phát nhiều lần thì vừa phù chính (nâng đỡ tống trạng, bổ khí huyết), vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh để tránh tái phát và đề phòng những biến chứng và những di chứng về sau.

II. Điều trị bệnh khớp xương bằng YHCT

            1. Bệnh khớp không có biểu hiện: sưng, nóng, đỏ

            - Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp, mưa lạnh, ẩm thấp đau tăng, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém…

            - Riêng cho từng thể bệnh lâm sàng: nếu thiên về phong chứng sẽ có thêm triệu chứng như: đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng. Nếu thiên về thấp chứng thêm các triệu chứng: đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu. Nếu thiên về hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt.

            - Điều trị:

            1.1. Nguyên tắc chung:

·    Ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đủ mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên, không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu.

·    Tập luyện nhẹ: như đi bộ, tập thái cực quyền, tập dưỡng sinh.

·    Đi gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.

·    Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, nhượng chân, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau, chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng phỏng da cho bệnh nhân.

·    Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí - huyết.

·    Châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng.

·    Dùng thuốc theo biện chứng luận trị.

            1.2. Điều trị cụ thể:

            1.2.1. Bài thuốc chung

·    Lá lốt                 12g ·    Quế chi         12g   ·    Cỏ xước            16g

·    Hà thủ ô            12g ·    Mắc cở         12     ·    Thiên niên kiện  12

·    Thổ phục linh    12 ·    Sinh địa           20

·    Công thức huyệt chung: áp thống điểm tại chỗ và quanh khớp đau.

            1.2.2. Gia giảm theo từng trường hợp:

            a. Nếu là phong chứng trội:

·    Dùng bài thuốc chung trên gia thêm các vị như: phòng phong, khương hoạt mỗi vị thuốc 12g.

·    Công thức huyệt dùng áp thống chung như trên và châm thêm các huyệt như: hợp cốc, phong môn, phong trì, huyết hải, túc tam lý, cách du.

          b. Nếu là thấp chứng trội:

·    Dùng bài thuốc chung nêu trên gia thêm: ý dĩ 16g, ngũ gia bì 12g, tỳ giải 16g.

·    Châm cứu dùng áp thống chung như trên, châm thêm các huyệt như: túc tam lý, tam âm giao, tỳ du, thái khuê, huyết hải.

·    Nếu mắc bệnh đã lâu và tái phát nhiều lần có thể dùng bài thuốc

        Khương hoạt      8g   Xích thước        12g

        Hoàng kỳ           12g   Cam thảo          6g

        Đại táo              12g   Phòng phong    8g

        Khương hoàng  12g Đương quy        8g ;    Gừng       4g

c. Nếu là hàn chứng trội

·    Dùng bài thuốc chung nêu trên, gia thêm các vị như: can khương 4g, phụ tử 8g, xuyên khung 12g.

·    Châm cứu: dùng công thức chung trên và cứu ấm thêm các huyệt như: quan nguyên, khí hải, tác tam lý, tam âm giao.

            1.3. Phòng tránh tái phát:

            Có thể dùng bài thuốc thấp khớp kinh điển là bài độc hoạt tang ký sinh thang gia giảm gồm các vị thuốc sau: đột hoạt 8g, phòng phong 8g, tang ký sinh 12g, tần giao 8g, tế tân 4g, ngưu tất 8g, đỗ trọng 8g, đương quy 12g, bạch thược 12g, xuyên khung 8g, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, phục linh 9g, cam thảo 6g, quế tâm 4g.

            2. Bệnh khớp có sưng, nóng, đỏ:

            2.1. Giai đoạn cấp tính YHCT gọi là phong thấp nhiệt tý

            Triệu chứng: các khớp sưng nóng đỏ đau (hay xuất hiện đối xứng) cự án, ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng.

            Bài thuốc

            Bài 1: bạch hổ quế chi thang gia vị:

            Thạch cao             20g                  Quế chi            6g

            Tri mẫu                 12g                  Hoàng bá        12g

            Thương truật         8g                    Kim ngân     20g

            Tang chỉ                12g                  Phòng kỷ        12g

            Ngạnh mễ             12g

            Sắc uống ngày 1 thang.

            Nếu có hồng ban hoặc khớp sưng đỏ nhiều gia thêm đan bì 12g, xích thược 8g, sinh địa 20g.

            Bài 2: quế chi thược dược tri mẫu thang gia vị:

            Quế chi            8g                    Tri mẫu             12g

            Bạch thược     12g                  Bạch truật       12g

            Cam thảo         6g                    Phòng phong    12g

            Ma hoàng         8g                    Kim ngân hoa    16g

            Liên kiều         12g

            Sắc uống ngày 1 thang.

            Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác YHCT gọi là thấp nhiệt thương âm.

            Vẫn dùng các bài thuốc trên, bỏ quế chi gia thêm các thuốc bổ âm như sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, sa sâm, miết giáp, thạch hộc…

            Châm cứu: châm các huyệt tại các khớp sưng đau và vùng lân cận, toàn thân châm huyệt hợp cốc, phong môn, túc tam lý, huyết hải, đại chùy…

            2.2. Giai đoạn mạn tính có thêm các biến chứng như biến dạng khớp, teo cơ, dính cứng khớp:

            Dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm các vị thuốc sau:

            Nam tinh chế        8g                    Xuyên sơn giáp     8g

            Bạch giới tử sao   8g                    Đào nhân              8g

            Bạch cương tàm  12g                  Hồng hoa               8g

            Châm cứu: châm các huyệt như phần trên.

            Xoa bóp: tại các khớp bằng các thủ thuật ấn, day, lần, véo các khớp và các cơ quan khớp.

            Vận động: vừa xoa bóp vừa vận động các khớp theo các tư thế động tác cơ năng. Vận động từng bước, động viên người bệnh chịu đựng, dần dần tới lúc các khớp hồi phục các động tác cơ năng.

            Xoa bóp vận động là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.

            2.3. Đề phòng bệnh thấp tái phát

            2.3.1. Dùng thuốc uống phòng: như đã trình bày ở trên, bệnh do các yếu tố phong, hàn, thấp, nhiệt xâm nhập vào cơ thể, trong điều kiện cơ thể người bệnh bẩm tố âm hư, huyết nhiệt, chính khí hưsuy mà gây bệnh hoặc tái phát, nên ngoài việc điều trị để phòng tránh tái phát, sau khi bệnh đã ổn định có thể dùng thuốc như sau:

            Bài thuốc: độc hoạt tang ký sinh thang.

            Độc hoạt ký sinh thang dạng bột hay dạng trà hoặc dạng thang thuốc sắc để bổ can thận, bổ khí huyết.

Độc hoạt12g Ngưu tất12g
Phòng phong12g Đỗ trọng12g
Tang ký sinh1g Quế chi8g
Tế tân8g Sinh địa12g
Tần giao8g Bạch thược12g
Đương quy8g Cam thảo6g
Đảng sâm12g Phụ tử chế8g
Phục linh12g   

            2.3.2. Xoa bóp, luyện tập thường xuyên, tự rèn luyện để cơ chế thích ứng dần với mọi hoàn cảnh thời tiết: lạnh, ẩm thấp, gió, mưa…

 Nguồn: http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn

75% bệnh nhân viêm khớp dạng thấp là nữ giới

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn điển hình ở người, dưới dạng viêm mạn tính ở nhiều khớp ngoại biên. Bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 30-60 với tỷ lệ lên tới 75%.

Theo thống kê mỗi năm, cứ 100.000 người dân thì có khoảng 25-30 người mắc VKDT, khoảng 50% trong số đó bị ảnh hưởng chức năng nặng nề và giảm tuổi thọ.

VKDT gây viêm khớp với các đợt cấp tính thường kéo dài 1-2 tuần, khiến bệnh nhân đau nhiều khớp, sốt, có thể xuất hiện các dấu hiệu ở những cơ quan khác. VKDT xảy ra nhiều nhất là ở các khớp nhỏ như bàn tay, ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân... đối xứng hai bên. Bệnh nhân thường có cảm giác đau khớp cả ngày, nhất là nửa đêm về sáng. Sau đó, có thể các khớp hết sưng đau cho đến khi có đợt mới, hoặc bớt đau và tình trạng này kéo dài liên tục. Ở giai đoạn muộn, người bệnh xuất hiện tổn thương "bào mòn" sụn khớp và đầuxương với các triệu chứng ngón tay co quắp lại, không thể cầm nắm, ngón chân trẹo ra ngoài, cử động rất đau đớn. Để lâu, các tổn thương càng nặng hơn, làm hẹp dần khe khớp, đầu xương, gây biến dạng khớp, dính khớp... Theo thống kê, sau khi khởi bệnh 10 năm, có tới 10-15% bệnh nhân bị tàn phế. Tỷ lệ tử vong tăng ở những người bị suy giảm chức năng vận động, mắc thêm các bệnh lý như: tim mạch, nhiễm trùng, loãng xương, các bệnh liên quan đến các thuốc kháng viêm steroid và NSAIDS (không steroid).

Khi nghi ngờ bị bệnh VKDT, bệnh nhân cần tới khám ở các chuyên khoa Khớp càng sớm càng tốt. Trong thời gian này, người bệnh có thể được chỉ định dùng một loại thuốc kháng viêm không steroid thích hợp. Sau khi được chẩn đoán xác định VKDT, cần sử dụng cho bệnh nhân một thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện bệnh và thiết lập một chương trình điều trị, theo dõi nghiêm túc, dài hạn.

Bên cạnh việc sử dụng các thuốc tây theo đơn của bác sĩ, bệnh nhân có thể sử dụng thêm các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên để hỗ trợ nâng cao hiệu quả điều trị, giúp bệnh tiến triển tốt và giảm bớt nguy cơ tác dụng phụ của các thuốc tây. Một sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, được nhắc đến nhiều trong các hội thảo chuyên đề về VKDT là Hoàng Thấp Linh. Sản phẩm này giúp hỗ trợ điều trị, phòng ngừa viêm khớp dạng thấp hiệu quả, được nhiều bệnh nhân tin tưởng sử dụng. Chị Nguyễn Thị Hằng, 48 tuổi, ở Tây Hồ, Hà Nội mắc VKDT cách đây 6 năm, khiến các khớp ngón chân sưng tấy, đối xứng hai bên, sau đó bị biến dạng, ngón chân cái bị cong vẹo sang một phía, gây đau đớn, đi lại khó khăn. Tuy vậy, chị không thể sử dụng thuốc tây y do có tiền sử bệnh dạ dày. Sau một thời gian dài chịu đựng đau đớn, tình cờ chị biết đến Hoàng Thấp Linh. Chị mua về uống 4 viên/ngày, chia 2 lần, trước bữa ăn 30 phút. "Khi sử dụng Hoàng Thấp Linh được hơn 2 tháng, bệnh của tôi đã có chuyển biến rất tích cực. Tôi cảm thấy ăn ngon miệng, giấc ngủ sâu hơn, u cục to ở khớp ngón chân cái giờ đã hết đau, sinh hoạt của tôi trở lại bình thường" - chị Hằng cho biết.

VKDT là một bệnh lý tự miễn điển hình với các biểu hiện tại khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề. Khi đã mắc bệnh, bên cạnh sử dụng Hoàng Thấp Linh, người bệnh phải kiên trì điều trị, xoa bóp nhẹ nhàng để tránh dính khớp, teo cơ.

Nguyễn Dũng
(Theo Tin tức - Ngày 21/3/2011)

 

Người bệnh khớp nên và tránh ăn gì?

Tại buổi hội thảo về dinh dưỡng cuối tháng 4 vừa qua tại TP.HCM, nhằm giúp người bệnh khớp giảm đau nhức, các chuyên gia đã đưa ra những khuyến cáo. Đó là nên ăn thức ăn đa dạng - một chế độ ăn lành mạnh đối với người bị thấp khớp. Chế độ ăn này có đủ các thức ăn thuộc các nhóm trên tháp dinh dưỡng như: ngũ cốc, trái cây, các sản phẩm từ sữa, và thịt, cá. Có như thế mới đáp ứng được nhu cầu dưỡng chất của cơ thể; cố gắng duy trì cân nặng cơ thể vừa phải - điều quan trọng là đừng để tăng cân. Nếu thấy có chiều hướng tăng cân thì nên giảm bớt thức ăn giàu bột, đường và chất béo, và nên vận động, mà bơi lội và đi bộ là thích hợp nhất với người bệnh khớp.

Hạn chế thức ăn dầu, mỡ và cần để ý đến cholesterol. Những người bệnh khớp cũng thường mắc bệnh cao huyết áp, tim mạch, nên chế độ ăn giảm béo và cholesterol sẽ giúp phòng tránh những bệnh này; nên ăn nhiều rau (rau muống, cải bẹ xanh, bẹ trắng, rau dền... sẽ đem lại nhiều chất vôi), trái cây (sơ ri, dâu tằm, nho, cam...), và ngũ cốc nguyên hạt - đây là nguồn năng lượng cung cấp nhiều chất xơ, muối khoáng và sinh tố; sử dụng đường có mức độ; hạn chế sử dụng muối và natri.

Người bệnh viêm khớp kèm cao huyết áp cần đặc biệt quan tâm đến lượng muối đưa vào cơ thể hằng ngày và cả hàm lượng natri (có nhiều ở những loại thức ăn công nghiệp được chế biến, đóng hộp sẵn). Và đặc biệt là dùng rượu có mức độ. Rượu có thể làm cho xương yếu đi và làm tăng cân ngoài mong muốn nữa. Một số loại thuốc chữa viêm khớp sẽ bị giảm hấp thu vì rượu, và khi kết hợp với rượu sẽ gây ảnh hưởng xấu lên dạ dày và gan...

Theo Khánh Vy

Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI