• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

THERAVĀDA

BHIKKHUNIPĀTIMOKKHA
(GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA CỦA TỲ KHƯU NI)

Lời tiếng Việt: Indacanda Bhikkhu (Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO - 2005


 

MỤC LỤC

  PHẦN GIỚI THIỆU
[01] I. PUBBAKARAṆAṂ (CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ)
II. NIDĀNUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG MỞ ĐẦU)
III. PĀRĀJIKUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI PĀRĀJIKA)
IV. SAṄGHĀDISESUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI SAṄGHĀDISESA)
V. NISSAGGIYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG XẢ)
[02] VI. PĀCITTIYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG ĐỐI TRỊ)
VII. PĀṬIDESANĪYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI ƯNG PHÁT LỘ)
VIII. SEKHIYĀ DHAMMUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ ƯNG HỌC PHÁP)
IX. ADHIKARAṆASAMATHE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG)

PHẦN GIỚI THIỆU

Trong Tạng Luật (Vinayapiṭaka), các điều học của tỳ khưu ni được xếp vào phần cuối của Bộ Phân Tích Giới Bổn (Suttavibhaṅga) và có tên là Bhikkhunīvibhaṅga - Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni. Tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp nên các điều học được quy định chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni đã không được đề cập đến vì đã có trình bày ở Bhikkhuvibhaṅga - Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu ở phần trước. Do đó, khi nghiên cứu và ghi lại phần tiếng Việt của Tạng Luật vào thời gian trước đây, chúng tôi cũng đã có thắc mắc về những điều học được quy định chung ấy là các điều nào; vấn đề ấy đã được giải quyết nhờ vào chú giải Tạng Luật Samantapāsādikā của ngài Buddhaghosa. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không xác định được các điều học ấy của tỳ khưu ni được sắp xếp theo thứ tự như thế nào.

Thời gian gần đây, chúng tôi đã tìm ra được một số tài liệu liên quan đến vấn đề trên nên sắp xếp chút ít thời gian để ghi lại đầy đủ giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu ni và trình bày song ngữ để quý vị tiện học tập và tham khảo. Các tài liệu có văn bản Bhikkhunipātimokkha nguyên tác Pāli hoặc bản dịch Anh ngữ mà chúng tôi có được nguồn trích dẫn cũng xin ghi lại để quý vị có thể kiểm chứng trong trường hợp cần thiết.

Bhikkhunīpātimokkha (in Singhalese characters). Ed. N. M. Vimalasara Thera with Singhalese paraphrase. Revised M. Dharmaratna. Colombo: 1914. Bhikkhunīpātimokkha (in Devanāgarī characters). Ed. R. D. Vadekar, Poona: Bhandarkar Institute, 1939. The Pātimokkha, ed. William Pruitt, trans. K. R. Norman. Oxford: The Pali Text Society, 2001. Dvemātikāpāḷī. CD Rom Chaṭṭhasaṅgāyana. Vipassanā Research Institute. The Bhikkhunī Pātimokkha of the Six Schools. Trans. Kabilsingh Chatsumarn. Bangkok: Thammasat Universit Press, 1991. Ubhato-pātimokkha (in Thai characters). Kabilsingh Chatsumarn đề cập đến ở The Bhikkhunī Pātimokkha of the Six Schools. Wijayaratna, Mohan. Buddhist Nuns: The Birth and Development of a Women’s Monastic Order. Colombo: Wisdom, 2001. The Bhikkhuni Patimokkha: The Bhikkhunis' Code of Discipline, Thanissaro Bhikkhu, trans. A concise summary of the bhikkhuni Patimokkha rules. Websites: http://www.accesstoinsight.org (Access to Insight/Theravada Text Archives/Thanissaro Bhikkhu/Vinaya Pitaka).

Quý độc giả tìm hiểu về các điều học của tỳ khưu ni nên xem thêm các phần Luật tương ứng ở Chánh Tạng để có sự hiểu biết rõ hơn cho mỗi trường hợp (chi tiết được ghi trong ngoặc đơn ở cuối phần tiếng Việt của mỗi điều học). Đối với các vị nghiên cứu về ngôn ngữ, khi so sánh văn bản Pāli hai phần giới bổnPātimokkha của tỳ khưu và tỳ khưu ni sẽ hiểu rõ hơn về sự chuyển tánh (liṅga) của một số từ và khẳng định được một số cấu trúc văn phạm trong giới bổn của tỳ khưu nữa.

Tài liệu này được thực hiện ngoài dự tính và thời gian đầu tư cho công việc này cũng rất hạn chế nên không thể tránh khỏi nhiều điều sai sót. Ngưỡng mong quý độc giả hỷ xả. Mọi sự góp ý phê bình xin email về:dinda@u.washington.edu

Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành tán dương công đức ủng hộ của các vị: Sư Cô Diệu Linh, Sư Cô Hạnh Bửu, Dr. Binh Anson, Chú Nguyễn Hữu Danh, Anh Phạm Trọng Độ, Bà Nguyễn văn Chuân, Bà Ba Diệu Đài, Bà Diệu Giới, gia đình Cô Sáu Dép, Cô Tư Khánh Huy, Cô Lê Thị Huế, gia đình Trương Tuyết Anh, Phật tử Ngọc Ngân, v.v... Thành tâm cầu chúc quý vị luôn đạt được nhiều hạnh phúc trong cuộc sống thế gian và thể nhập niềm an lạc vô biên trên bước đường tu tập giải thoát.

Công đức này xin dâng đến Hòa Thượng trụ trì và chư Tăng chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan, đã bảo bọc và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc tu học và nghiên cứu Phật Pháp trong thời gian qua.

Mong sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp.

Colombo, ngày 17 tháng 02 năm 2005
Bhikkhu Indacanda
(Trương đình Dũng)

 

[01]

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa!
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

BHIKKHUNIPĀTIMOKKHA
(GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA CỦA TỲ KHƯU NI)

*****

I. PUBBAKARAṆAṂ
(CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ)

Sammajjanī  padīpo  ca - udakaṃ  āsanena  ca,  uposathassa  etāni - pubbakaraṇanti  vuccati. 

Việc quét tước, thắp sáng đèn, nước (uống nước rửa), và chỗ ngồi, các việc này gọi là công việc chuẩn bị cho lễ Uposatha (Bố Tát).

Chandapārisuddhi  utukkhānaṃ - bhikkhunigaṇanā  ca  ovādo,  uposathassa  etāni - pubbakiccanti  vuccati. 

(Việc bày tỏ) sự tùy thuận và sự trong sạch, việc tính mùa tiết, việc đếm số tỳ khưu ni (hiện diện), và (việc thỉnh cầu) sự giáo giới, các việc này gọi là phận sự trước tiên của lễ Uposatha (Bố Tát).

Uposatho  yāvatikā  ca  bhikkhunī  kammappattā,  sabhāgāpattiyo  ca  na  vijjanti,  vajjanīyā  ca  puggalā  tasmiṃ  na  honti,  pattakallanti  vuccati. 

(Hôm nay) là ngày lễ Uposatha, các vị tỳ khưu ni với số lượng cần thiết đã có đủ, (trường hợp) các vị ni vi phạm tội giống nhau không xảy ra, ở đây không có những nhân vật cần phải tách ly, như thế gọi là “thời điểm thích hợp.”

Pubbakaraṇapubbakiccāni  samāpetvā  desitāpattikassa  samaggassa  bhikkhunisaṅghassa  anumatiyā  pātimokkhaṃ  uddisituṃ  ārādhanaṃ  karomi.

Các công việc chuẩn bị và các phận sự trước tiên đã được hoàn tất, hội chúng tỳ khưu ni đã sám hối tội lỗi và có sự hợp nhất, với sự đồng ý của hội chúng tỳ khưu ni tôi xin thỉnh đọc tụng giới bổn Pātimokkha.

 

II. NIDĀNUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG MỞ ĐẦU)
 
[1]

Suṇātu  me  ayye  saṅgho  ajjuposatho  pannaraso.  Yadi  saṅghassa  pattakallaṃ  saṅgho  uposathaṃ  kareyya,  pātimokkhaṃ  uddiseyya.  Kiṃ  saṅghassa  pubbakiccaṃ?  Pārisuddhiṃ  ayyāyo  ārocetha,  pātimokkhaṃ  uddisissāmi.  Taṃ  sabbāva  santā  sādhukaṃ  suṇoma  manasi  karoma.  Yassā  siyā  āpatti  sā  āvikareyya,  asantiyā  āpattiyā  tuṇhī  bhavitabbaṃ  tuṇhībhāvena  kho  panāyyāyo  parisuddhāti  vedissāmi.  Yathā  kho  pana  paccekapuṭṭhāya  veyyākaraṇaṃ  hoti,  evamevaṃ  evarūpāya  parisāya  yāvatatiyaṃ  anusāvitaṃ  hoti.  Yā  pana  bhikkhunī  yāvatatiyaṃ  anusāviyamāne  saramānā  santiṃ  āpattiṃ  nāvikareyya,  sampajānamusāvādassā  hoti.  Sampajānamusāvādo  kho  panāyyāyo  antarāyiko  dhammo  vutto  bhagavatā  tasmā  saramānāya  bhikkhuniyā  āpannāya  visuddhāpekkhāya  santī  āpatti  āvikātabbā,  āvikatā  hissā  phāsu  hoti.

Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hôm nay ngày mười lăm là ngày lễ Uposatha (Bố Tát). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành lễ Uposatha, nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Phận sự trước tiên của hội chúng là gì? Các đại đức ni hãy tuyên bố sự trong sạch rồi tôi sẽ đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Hết thảy tất cả các vị hiện diện (chúng ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe và hãy chú tâm đến điều ấy. Nếu vị ni nào có phạm tội, vị ni ấy nên bày tỏ; vị ni không có phạm tội thì nên im lặng. Do thái độ im lặng, tôi sẽ nhận biết về các đại đức ni rằng: “(Các ni sư) được trong sạch.” Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có câu trả lời; tương tợ như thế, trong hội chúng như thế này (câu hỏi) được thông báo đến lần thứ ba. Trong khi đang được thông báo đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ni nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đang có thì vị ni ấy cố tình nói dối. Bạch chư đại đức ni, việc cố tình nói dối là pháp chướng ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến; do đó, vị tỳ khưu ni bị phạm tội mà nhớ ra và có ý muốn được trong sạch thì nên bày tỏ ra tội đang có. Bởi vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ni ấy sẽ được thoải mái.

Uddiṭṭhaṃ  kho  ayyāyo  nidānaṃ.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti. 

Bạch chư đại đức ni, phần mở đầu đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi chư đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Nidānuddeso  niṭṭhito.
(Phần đọc tụng mở đầu được chấm dứt).

 

III. PĀRĀJIKUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI PĀRĀJIKA)

Tatrime  aṭṭha - pārājikā  dhammā  uddesaṃ  āgacchanti. 

Ở đây, tám điều pārājikā (bất cộng trụ) được đưa ra đọc tụng.

1.  Yā  pana  bhikkhunī  chandaso  methunaṃ  dhammaṃ  paṭiseveyya  antamaso  tiracchānagatenapi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

1.  Vị tỳ khưu ni nào thuận tình thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú đực là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.1, tk.)[2]

2.  Yā  pana  bhikkhunī  gāmā  vā  araññā  vā  adinnaṃ  theyyasaṅkhātaṃ  ādiyeyya,  yathārūpe  adinnādāne  rājāno  coraṃ  gahetvā  haneyyuṃ  vā  bandheyyuṃ  vā  pabbājeyyuṃ  vā,  corāsi  bālāsi  mūḷhāsi  thenāsīti,  tathārūpaṃ  bhikkhunī  adinnaṃ  ādiyamānā  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

2.  Vị tỳ khưu ni nào lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối trộm cướp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được nữ đạo tặc thì có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): “Cô là kẻ trộm, cô là kẻ ngu, cô là kẻ khờ, cô là kẻ cướp;” tương tợ như thế, vị tỳ khưu ni khi lấy vật không được cho, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.2, tk.)

3.  Yā  pana  bhikkhunī  sañcicca  manussaviggahaṃ  jīvitā  voropeyya  satthahārakaṃ  vāssa  pariyeseyya  maraṇavaṇṇaṃ  vā  saṃvaṇṇeyya  maraṇāya  vā  samādapeyya,  ambho  purisa  kiṃ  tuyhiminā  pāpakena  dujjīvitena  mataṃ  te  jīvitā  seyyoti  iti  cittamanā  cittasaṅkappā  anekapariyāyena  maraṇavaṇṇaṃ  vā  saṃvaṇṇeyya  maraṇāya  vā  samādapeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

3.  Vị tỳ khưu ni nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người, hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết: “Này người ơi, còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!” Vị ni có tâm ý và có tâm tư như thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục đưa đến sự chết, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.3, tk.)

4.  Yā  pana  bhikkhunī  anabhijānaṃ  uttarimanussadhammaṃ  attūpanāyikaṃ  alamariyañāṇadassanaṃ  samudācareyya  iti  jānāmi  iti  passāmīti,  tato  aparena  samayena  samanuggāhiyamānā  vā  asamanuggāhiyamānā  vā  āpannā  visuddhāpekkhā  evaṃ  vadeyya,  ajānamevaṃ  ayye  avacaṃ  jānāmi  apassaṃ  passāmi  tucchaṃ  musā  vilapinti  aññatra  adhimānā,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

4.  Vị tỳ khưu ni nào tuyên bố về pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh rằng: “Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, (vị ni ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi phạm lại nói như vầy: “Này các đại đức ni, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá,” ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.4, tk.)

5.  Yā  pana  bhikkhunī  avassutā  avassutassa  purisapuggalassa  adhakkhakaṃ  ubbhajānumaṇḍalaṃ  āmasanaṃ  vā  parāmasanaṃ  vā  gahaṇaṃ  vā  chupanaṃ  vā  paṭipīḷanaṃ  vā  sādiyeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  ubbhajānumaṇḍalikā. 

5.  Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc sự chạm vào hoặc sự ôm chặt từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ sờ phần trên đầu gối. (bct.1, tkni.)[3]

6.  Yā  pana  bhikkhunī  jānaṃ  pārājikaṃ  dhammaṃ  ajjhāpannaṃ  bhikkhuniṃ  nevattanā  paṭicodeyya  na  gaṇassa  āroceyya  yadā  ca  sā  ṭhitā  vā  assa  cutā  vā  nāsitā  vā  avassatā  vā,  sā  pacchā  evaṃ  vadeyya  pubbevāhaṃ  ayye  aññāsiṃ  etaṃ  bhikkhuniṃ  evarūpā  ca  evarūpā  ca  sā  bhaginīti  no  ca  kho  attanā  paṭicodessaṃ  na  gaṇassa  ārocessanti,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃ  vāsā  vajjappaṭicchādikā. 

6.  Vị tỳ khưu ni nào dầu biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika vẫn không tự chính mình khiển trách cũng không thông báo cho nhóm khi vị ni kia hãy còn tồn tại, hoặc bị chết đi, hoặc bị trục xuất, hoặc bỏ đi. Sau này, vị ni ấy nói như vầy: “Này các ni sư, chính trước đây tôi đã biết rõ tỳ khưu ni kia rằng: ‘Sư tỷ ấy là như thế và như thế’ mà tôi không tự chính mình khiển trách cũng không thông báo cho nhóm;” vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ che giấu tội. (bct.2, tkni.)

7.  Yā  pana  bhikkhunī  samaggena  saṅghena  ukkhittaṃ  bhikkhuṃ  dhammena  vinayena  satthusāsanena  anādaraṃ  appaṭikāraṃ  akatasahāyaṃ  tamanuvatteyya,  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  eso  kho  ayye  bhikkhu  samaggena  saṅghena  ukkhitto  dhammena  vinayena  satthusāsanena  anādaro  appaṭikāro  akatasahāyo  māyye  etaṃ  bhikkhuṃ  anuvattīti,  evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya  yāvatatiyaṃ  ce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  ukkhittānuvattikā. 

7.  Vị tỳ khưu ni nào xu hướng theo vị tỳ khưu đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, vị tỳ khưu ấy đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này ni sư, chớ có xu hướng theo vị tỳ khưu ấy.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ xu hướng theo kẻ bị phạt án treo. (bct.3, tkni.)

8.  Yā  pana  bhikkhunī  avassutā  avassutassa  purisapuggalassa  hatthaggahaṇaṃ  vā  sādiyeyya  saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ  vā  sādiyeyya  santiṭṭheyya  vā  sallapeyya  vā  saṅketaṃ  vā  gaccheyya  purisassa  vā  abbhāgamanaṃ  sādiyeyya  channaṃ  vā  anupaviseyya  kāyaṃ  vā  tadatthāya  upasaṃhareyya  etassa  asaddhammassa  paṭisevanatthāya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  aṭṭhavatthukā. 

8.  Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng thích thú sự nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm dục vọng, hoặc thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của người nam), hoặc đứng chung, hoặc trò chuyện, hoặc đi đến nơi hẹn hò, hoặc thích thú sự viếng thăm của người nam, hoặc đi vào nơi che khuất, hoặc kề sát cơ thể nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ liên quan tám sự việc. (bct.4, tkni.)

Uddiṭṭhā  kho  ayyāyo  aṭṭha  pārājikā  dhammā.  Yesaṃ  bhikkhunī  aññataraṃ  vā  aññataraṃ  vā  āpajjitvā  na  labhati  bhikkhunīhi  saddhiṃ  saṃvāsaṃ  yathā  pure  tathā  pacchā  pārājikā  hoti  asaṃvāsā.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti.

Bạch chư đại đức ni, tám điều pārājika đã được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này thì không có được sự cộng trú cùng với các tỳ khưu ni, trước đây như thế nào thì sau này là như vậy; (vị ni ấy) là vị ni phạm tội pārājika không được cộng trú. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Pārājikuddeso  niṭṭhito.
(Phần Đọc Tụng Giới Pārājika được chấm dứt).

--ooOoo--


Trang [1] 2 3 >> (5)
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI