• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Cuộc Đời và Hành Trạng của Trưởng Lão Hộ Tịnh (1944-2013)

hotinh

– Tôn túc Chứng minh Phật giáo Nam tông Thừa Thiên Huế
– Nguyên Giám tự chùa Thiền Lâm, thành phố Huế

Trưởng lão Pháp danh Hộ Tịnh, thế danh Hồ Ngọc Tịnh; sinh ngày 2 tháng 3 năm 1944 (Giáp Thân)tại làng Thế Chí Tây, xã Điền Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Song thân là cụ ông Hồ Ngọc Sắc và cụ bà Nguyễn Thị Cồn.

Có thể nói, gần trọn cuộc đời của trưởng lão là một bức tranh có gam màu lạnh phủ gần hết khung vải!

Khi mẫu thân vừa hoài thai cố trưởng lão được hai tháng thì phụ thân của ngài đi hái lá trên rừng mất tích. Bà con trong dòng họ đổ xô đi tìm nhưng vẫn tuyệt mù tăm bóng. Sinh con được ba tháng, mẹ của ngài buồn chán để con lại cho ông bà ngoại nuôi rồi lưu lạc vào miền Nam kiếm sống. Về sau mẹ ngài tái hôn và có thêm hai người con gái với người chồng sau.

Ở với ông bà ngoại đến năm 5 tuổi, cố trưởng lão được người bác ruột đưa về nhà nuôi. Người bác ruột cũng có con nhỏ nên cho đứa cháu đi học một thể. Từ đó cậu bé ấy vừa đi học vừa phải phụ việc trong gia đình. Học xong 3 lớp tiểu học, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên khi lên 9 tuổi cậu bé phải nghỉ học, đi chăn trâu cho một gia đình phú hộ ở cùng làng.

Năm 12 tuổi, một lần nữa cậu bé mồ côi phải từ giã gia đình người bác ruột để đi làm thêm trong thị xã Huế – nói đúng hơn là đi ở đợ. Giúp việc và ở lại nhà của một gia đình buôn bán khá giả trong thành nội, tuy cuộc sống có phần đầy đủ hơn lúc còn ở ngoài quê, nhưng do thân phận tôi đòi nên cậu bé phải làm việc tất bật từ sáng sớm cho đến tối khuya. Nhờ bản chất hiền lành, chân thật và chăm chỉ làm việc nên cậu thiếu niên này rất được gia đỉnh chủ tin yêu và giao thêm nhiều công việc. Tuy nhiên, sau một thời gian giúp việc, nhận thấy tương lai rất mờ mịt nếu tiếp tục trong thân phận tôi tớ nên chút tiền lương và tiền thưởng ít ỏi cậu đều cẩn thận dành dụm lại để tính chuyện mai sau. Đến năm 1962, khi vừa tròn 18 tuổi, cái tuổi bắt đầu trưởng thành, tất cả số tiền cậu tiết kiệm dành dụm được suốt mấy năm qua mua được 3 chỉ vàng – một số vốn căn bản phải có để đóng học phí học nghề thuở ấy – cậu xin phép ông bà chủ nghỉ việc để đi tìm thầy học nghề lập thân. Do cảm mến tính tình của người làm công này, ông bà chủ của chàng giới thiệu cho cậu đến học nghề làm nệm ở nhà bà Cồ ở thôn Thượng 2, xã Thủy Xuân, thị xã Huế. Lúc bấy giờ nghề làm nệm kiểu mới rất được người đương thời ưa chuộng và cơ sở làm nệm nơi cậu đến học nghề rất đắt hàng vì sản phẩm làm ra ở đây rất tốt và có uy tín trên thị trường.

Với quyết tâm “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” cậu rất siêng năng chịu khó học hỏi. Đáp lại, cậu được người chủ mới tạo điều kiện cho ăn và ở lại tại chỗ làm.
Thấy người học nghề này có chí và thật thà nên bà chủ rất thương. Bà tận tình chỉ bảo và cũng giao thêm nhiều công việc cho cậu để có thêm thu nhập. Không ngờ, chính những tháng ngày học nghề làm nệm ở đây lại chính là một duyên lành để cậu thanh niên này đến với con đường phạm hạnh cao thượng.

Nhà bà chủ, nơi mà cậu thanh niên chăm chỉ đang làm việc ở ngay phía dưới chân chùa Thiền Lâm ngày nay, ngay chỗ tượng Phật ngồi. Mỗi sáng sớm nghe tiếng chuông chùa trong vùng ngân nga là cậu thức dậy mở cửa quét dọn cơ sở sản xuất; và sáng nào cậu cũng nhìn thấy đức cố Tăng trưởng Hộ Nhẫn đi khất thực ngang qua. Từng bước chân thanh thoát và tự tại của nhà sư đã lay động tâm thức người trai trẻ mồ côi và nhiều bất hạnh này. Thỉnh thoảng, vào những buổi chiều rảnh rỗi, cậu lên chùa rồi lân la đến gần chào bậc thầy khả kính ấy. Nhìn thấy nhà sư ngồi thiền và nghe tiếng tụng kinh Pali, nội tâm của cậu dâng tràn niềm hoan hỷ. Đức cố Tăng trưởng dường như nhìn thấy được nỗi lòng khao khát hướng thiện và hướng thượng của cậu nên có đôi lần cho cậu vào trong cốc và giảng giải về Đức Phật, về khổ đau của cuộc đời và về con đường giải thoát khổ cho cậu nghe. Suốt hai mươi năm sống cuộc sống mồ côi và đã nếm đủ mùi cơ cực, cay đắng, cuộc đời của cậu tưởng đâu chìm ngập trong tăm tối, nghiệt ngã của số kiếp bất hạnh; giờ đây, sau khi nghe được những lời giảng dạy từ vị thầy mà bấy lâu cậu vẫn ngưỡng mộ, nội tâm cậu dường như bừng tỉnh; con đường giải thoát giác ngộ dần dà hiện ra rõ ràng trong tâm trí cậu.

Thế là năm 1965, khi mới bước qua tuổi 20, người thiện nam ấy được đức cố Tăng trưởng Hộ Nhẫn thu nhận vào làm giới tử, công quả và tu tập tại chùa Thiền Lâm và được đặt Pháp danh là Hộ Tịnh.
Giới tử Hộ Tịnh luôn siêng năng tinh tấn trong công việc và tu tập. Lúc bấy giờ đức cố Tăng trưởng đang khởi công xây dựng tượng Phật Niết-Bàn, một công trình tượng đài Phật giáo to lớn nhất đất Thần Kinh lúc bấy giờ, đòi hỏi nhiều công sức và tài vật. Giới tử Hộ Tịnh đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc thực hiện pho tượng này. Mỗi ngày từ sáng sớm tinh mơ cho đến chiều tối, chú luôn tất bật công việc, hết gánh nước đến trộn hồ hoặc đào đất, đục đá. Một mình chú làm việc bằng mấy người thợ phụ. Với tâm niệm phục vụ Tam Bảo nên chú đã không quản mệt nhọc mà làm việc hết mình. Có lần, khi đang đục đá, chú bị chiếc búa tạ gãy cán bay thẳng vào giữa đầu, máu me đầm đìa làm mọi người hốt hoảng đưa lên nhà thương cấp cứu, khâu lại vùng đầu bị toác; vậy mà hôm sau người ta đã thấy chú ra lại công trường để tiếp tục làm việc.

Những chuyện như trên chỉ là một trong việc bình thường trong suốt cuộc đời tu hành của cố trưởng lão.

Năm 1967, đức cố Tăng trưởng Hộ Nhẫn cho giới tử Hộ Tịnh thọ sadi. Từ đây cố trưởng lão đã có y bát chân truyền để đi theo con đường cao quý, học hạnh cao thượng từ người thầy khả kính của mình. Ngày ngày đi khất thực gieo duyên, hai thời công phu, tọa thiền thường nhật, thời gian còn lại trong ngày vị sadi này luôn gánh vác các công việc chân tay nặng nhọc ở trong chùa. Với bản tính nói ít làm nhiều, thận trọng trong từng việc nhỏ nhặt nên công việc gì của chùa có sadi Hộ Tịnh tham dự là đâu vào đó.

Sau biến cố Mậu Thân, do bom rơi đạn lạc, chùa Thiền Lâm bị hư hại nặng, chính phủ thời đó đã đồng ý bồi thường, hỗ trợ công binh và vật liệu để Ngài Tăng trưởng Hộ Nhẫn xây dựng lại. Công việc trùng kiến bảo tháp được tiến hành vào năm 1970; và trong việc xây dựng lại chùa lần này sadi Hộ Tịnh lại tiếp tục đóng góp rất nhiều công sức. Chuyện kể lại rằng, trong những ngày làm lại chùa lần ấy, mỗi lần vác ciment từ chân núi lên, mỗi người lính công binh hoặc những thợ phụ vác 1 người một bao, riêng sadi Hộ Tịnh vác mỗi lần tới 3 bao.

Xây lại ngôi bảo tháp cũng là Phật điện Thiền Lâm xong, đức cố Tăng trưởng tiếp tục tạo thêm tượng đài Đức Phật trì bình ở ngả ba đồi Quảng Tế – pho tượng này ngày nay vẫn thuộc nhóm tượng Phật lộ thiên lớn nhất ở Huế – và Sadi Hộ Tịnh lại tiếp tục đóng góp rất nhiều công sức của mình. Cuối thập niên 1990, khi xây dựng tượng Phật ngồi, cố trưởng lão cũng đóng góp rất nhiều công sức để tôn tạo công trình mang tính thiêng liêng này.
Năm 1973, có người cúng dường đức cố Tăng trưởng một lô đất ở làng Trúc Lâm, phường An Ninh Hạ hiện nay và thỉnh Đức cố Tăng trưởng về làm chùa ở đó. Nhận thấy tâm nguyện của Phật tử chính đáng nên đức cố Tăng trưởng giao sadi Hộ Tịnh cùng một số quý vị tỳ-khưu, sadi khác đến làng Trúc Lâm gieo duyên và tạo cơ sở mới. Về làng Trúc Lâm, bước đầu rất khó khăn về chỗ ở và vấn đề nước sinh hoạt, vị Sadi có hạnh nguyện phục vụ của chúng ta lúc bấy giờ phát nguyện thọ Pháp đầu-đà ngăn oai nghi nằm. Sau mỗi ngày làm việc vất vả, buổi tối sadi Hộ Tịnh không nằm ngủ mà chỉ tọa thiền và ngủ trong tư thế ngồi, suốt 3 tháng như thế. Để có nước sử dụng quý sư lúc ấy quyết định đào giếng, và một lần nữa mọi người rất khâm phục ý chí kiên định và siêng năng của sadi Hộ Tịnh.

Vùng đất mà chư sư đến lập cốc ấy ở trên một ngọn đồi khô cằn, nhiều đá sỏi. Để đào tới được mạch nước ngầm phải đào đục xuyên qua nhiều lớp đá tảng và rất sâu. Rất nhiều lần các huynh đệ chán nản muốn bỏ cuộc nhưng sư vẫn cương quyết tiếp tục. Đến khi chạm tới mạch nước ngầm, tính lại thì công việc đào giếng đã liên tục suốt bảy tháng. Rất tiếc, do không thuận duyên nên công việc xây dựng một ngôi chùa Nguyên thủy ở làng Trúc Lâm đã không thành tựu.

Sau ngày đất nước thống nhất, đời sống vật chất rất khó khăn, một số ngôi chùa phải tự trồng trọt thêm lương thực. Sư Tâm Đức ở chùa Tam Bảo, Đà Nẵng lúc bấy giờ có Phật tử cúng cho một lô đất ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đặt tên là Hoa Đàm viên, chủ yếu là trồng khoai sắn để cúng dường thêm lương thực cho chư Tăng, thấy sư Hộ Tịnh rất siêng năng và giỏi giang công việc nên xin phép đức cố Tăng trưởng thỉnh sư về chăm sóc công việc ở Hoa Đàm viên. Khi đó tại chùa Thiền Lâm có một số vị sadi đệ tử khác nữa nên ngài cố Tăng trưởng đồng ý. Trong thời gian sư Hộ Tịnh về đó, ngoài công việc trồng trọt, sản xuất sư cũng đã gieo Phật duyên cho một số hộ gia đình lân cận. Khu đất Hoa Đàm viên ấy sau năm 1980 do khó quản lý nên đã tặng cho một gia đình Phật tử tại đó. Mảnh đất ấy giờ đây cũng đã bị giải tỏa theo quy hoạch của chính quyền thành phố Đà Nẵng.

Cuối năm 1978, chùa Huyền Không ở Lăng Cô di dời về thôn Nham Biều, Hương Hồ. Thời gian chùa mới dời về còn rất khó khăn và bộn bề công việc, sư Hộ Tịnh đã về chung lưng đấu cật cùng huynh đệ ở Huyền Không những ngày tháng khó khăn này. Sau này, cố trưởng lão thường nhắc lại những kỷ niệm quãng thời gian ở chùa Huyền Không Lăng Cô cũng như ở Nham Biều với tâm trạng trìu mến. Trưởng lão nói rằng, thời gian đó là một trong số ít quãng thời gian làm việc mệt nhọc nhưng lại hạnh phúc nhất. Ban ngày, quý sư đều nỗ lực làm việc quần quật, đêm về quây quần bên nhau uống trà và thảo luận Phật Pháp. Dù đời sống và vật thực hết sức thiếu thốn nhưng tâm tư luôn tràn trề tình thương huynh đệ. Nhiều khi sau một ngày lao động mệt mỏi, chỉ có một bánh đường đen, chia đều thành 16-17 phần, mỗi người mỗi mẩu bé tí mà thấy an lạc vô cùng.

Sau 15 năm tính từ khi vào chùa, đến đầu năm 1979, do tình hình Tăng sự ở Huế khẩn thiết và được sự cho phép của đức cố Tăng trưởng, sư vào Sài Gòn cùng hai pháp đệ ở Huyền Không để xin thọ đại giới. Vào ngày 23/6/1979, sadi Hộ Tịnh, sadi Pháp Tông và sadi Tuệ Tâm chính thức được thọ đại giới với đức cố Tăng Thống Ẩn Lâm tại chùa Kỳ Viên, trụ sở trung ương của Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam. Như vậy sau gần hai năm làm giới tử và mười hai năm trong phẩm hạnh sadi, từ đây trở đi cố trưởng lão của chúng ta chính thức trở thành một vị tỳ-khưu của Phật giáo Nguyên thủy.


Trang [1] 2
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI