• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Hiểu về chữ Nghiệp trong Đạo Phật

Tỳ khưu ni Pháp Hỷ - Dhammananda

Khi nàng Kiều bị duyên phận đưa đẩy, bị bán vào lầu xanh. Làm gái, trở thành món đồ chơi trong tay người xa lạ. Bao phen cay đắng cố thoát ra nhưng rồi lại cứ bị cột vào. Nguyễn Du nói:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

trời mà cũng tại ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!”

Vậy nghiệp là gì? Trong tiếng Việt, chúng ta hay nói nghề nghiệp, nghĩa là việc làm hàng ngày để kiếm sống. Chúng ta chọn một nghề để kiếm sống, có khi bắt buộc phải làm một nghề nào đó để kiếm sống. và nghề đó trói buộc nguời chọn (hay bị chọn) vào những hành động lặp đi lặp lại , tạo thành thói quen, thành sở trường, thành ngón nghề. Như vậy nghề tạo ra nghiệp. Nhưng cũng có thể hiểu theo cách khác, nghiệp khiến người ta chọn nghề như vậy, ví dụ như nàng Kiều trong tác phẩm của Nguyễn Du.

Nghiệp có xuất xứ trong tiếng Ấn cổ là karma (Sanskrit) hay kamma (Pali), là danh từ của động từ karoti, nghĩa là làm hay tạo ra. Khi định nghĩa về Nghiệp, kamma trong Phật học có nghĩa là việc làm hay hành động có chủ ý. Trong văn học Pali, chữ kamma là trung tính, nó có thể là thiện, hoặc bất thiện, hay không thiện không ác  (không để lại hậu quả mang tính đạo đức). Trong Trung bộ Kinh có hai bài kinh nói về nghiệp và kết quả riêng biệt của từng nghiệp thiện hay bất thiện (Trung Bộ Kinh số 135, tiểu Kinh Phân biệt Nghiệp, tương đương với Kinh Oanh Vũ – Trung A hàm số 170; Đại kinh kinh phân biệt nghiệp số136, MN II). Phật tử không tin vào một đấng tối cao nào đó như Thương đế (hay ông Trời) hay Phạm thiên có khả năng thổi hồn vào con người và sai khiến họ phải như thế này hay như thế kia. Trước khi đạo Phật ra đời, những người tin vào đạo Bà-la-môn, dựa theo kinh điển Vệ Đà, hiểu nghiệp là các hình thức tế tự để làm vừa lòng đấng bề trên (các loại thần trong đạo Hindu hay các tôn giáo đa thần khác).

Một vị Bà la môn làm quan tế lễ của vua Pasenadi, người sống cùng thời với Đức Phật, rất giàu có nhưng hà tiện và hám của. Cuối đời ông ta chết. Con ông ta, thanh niên bà la môn Subha Toddeyya, theo chỉ dẫn của cha, đã làm những buổi tế lễ rất long trọng để đưa tiễn linh hồn cha đến cộng trú với Phạm thiên, hay ít nhất cũng là để được sinh lên một cảnh giới tốt đẹp nào đó. Tuy nhiên, Đức Phật lại dùng thần thông túc mạng minh và thấy vị bà la môn làm quan tế tự đã tái sinh làm con chó ngay trong nhà mình. Đức Phật ôm bình bát đến nhà đó khất thực, vốn sinh thời gia đình này không bao giờ bố thí đến ai (trừ việc tế lễ để hối lộ các vị thần linh hay làm thỏa mãn giai cấp thống trị có quyền lực). Khi thấy Phật đến khất thực, con chó đó lao ra sủa to rất bực tức. Đức Phật từ bi nói với nó: “Toddeyya, sinh thời ngươi không biết làm phước, không biết cúng dường nên mới sinh làm kiếp chó. Nay ngươi vẫn giữ tâm keo bẩn và sân hận đó khi thấy Như Lai. Thật tội nghiệp thay!” khi nghe như vậy, con chó đó buồn bã cụp đuôi đi vào nhà, tìm một xó tối nằm yên, nước mắt tuôn trào thật thảm thương.

Khi Bà la môn Subha Toddeyya trở về nhà sau một vài sự vụ ở bên ngoài, không thấy con chó cưng ra đón vồn vã như mọi ngày, ông ta hỏi người nhà có điều gì đã xẩy ra với con chó cưng. Được thuật lại những gì đã xẩy ra vào buổi sáng, nhất là khi nghe đến việc Phật gọi con chó của ông bằng tên cha ông. Subha nổi giận bừng bừng! Ông tức tốc đến chùa gặp Phật để dằn mặt về việc xúc phạm gia đình ông. Ông tuyên bố nếu Phật không đưa ra được các bằng cớ để chứng minh mối liên hệ tiền thân hậu kiếp giữa con chó và cha ông, bà la môn cựu quan tế tự của triều đình đương đại, thì ông ta sẽ kiện và phạt Phật về tội vu khống và mạ lị!

Phật bảo ông hãy bình tĩnh, về nhà quan sát những chỗ mà con chó hay nằm, đánh dấu những chỗ đó. Thế Tôn cũng bảo ông hãy kiểm tra lại tài sản kế thừa mà ông nhận được từ cha ông, đối chiếu những tài sản hiện vật đó với bản liệt kê các tài sản truyền từ đời này đến đời khác trong gia đình ông, xem có những tài sản nào có trong văn tự mà không tìm thấy hiện vật không. Subha làm theo lời chỉ dẫn và quả thực có một số vàng bạc châu báu có trong bảng liệt kê mà không thấy trong kho lưu trữ. Phật bảo ông hãy đào những chỗ mà con chó hay nằm lên, chắc chắn ông sẽ tìm được những hiện vật kia được chôn giấu ở những chỗ đó. Vì Bà la môn Toddeyya sợ bị mất của, nên chôn dấu những tài sản mà ông yêu quí nhất trong khu vườn nhà ông. Khi chết đi, tâm luyến ái và muốn bảo vệ những tài sản đó đến cùng, khiến ông tái sinh làm con chó giữ của. Sau khi gặp Phật, được khai thị về nghiệp lực khiến mình tái sinh kiếp chó, nó buồn bã rơi lệ, bảy ngày không ăn uống, con chó đã chết và đi theo nghiệp của mình.

Lại nói về người con nối nghiệp, Subha đã tìm thấy những tài sản bị chôn giấu, đó cũng là bằng chứng để ông không còn buộc tội Phật là mạ lị, bất kính đối với vong hồn cha ông nữa. Nhưng cũng từ đó, Subha nghi ngờ niềm tin truyền thống của chính ông. Với tâm tư muốn tìm hiểu về nghiệp và quả của nghiệp, Subha đã đến yết kiến Đức Phật. Câu chuyện và buổi đàm thoại được ghi lại trong Tiểu kinh Phân Biệt Nghiêp (MN II). Khi gặp Phật, câu hỏi ông đặt ra là: “Do nhân gì, duyên gì, giữa loài người với nhau lại có kẻ liệt (thấp hèn, kém may mắn), người ưu (cao quí, nhiều may mắn); người đoản thọ, kẻ sống lâu; người khỏe mạnh, kẻ yếu đuối bệnh tật; người xinh đẹp, kẻ xấu xí; người có uy quyền, giàu có, kẻ bần cùng luôn bị sai khiến; người có trí tuệ, kẻ thiểu trí;  vv.”

Đức Phật đã trả lời như sau: “này thanh niên, các loại hữu tình là chủ của nghiệp, là thừa kế của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là nơi nương tựa, nghiệp phân chia các loại hữu tình, khiến chúng sinh có liệt có ưu.” (tương tự trong MN I.390). Subha đã không hiểu lời nói tóm lược này về nghiệp, anh ta đã xin Phật giảng giải tường tận hơn. Nhân đó, Đức phật đã rộng thuyết về nghiệp. Hành động sát sinh do tâm độc ác, thiếu từ bi, thích làm hại người, vật là nhân dẫn đến tái sinh trong địa ngục, ác thú, đọa xứ, … khi được sinh lên làm người thì hay đau ốm, đoản thọ. Và ngược lại, có tâm từ bi thương xót người, vật, không sát sinh, không hành hạ, vv thì khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sinh vào nơi tốt đẹp; sinh ra làm người thì khỏe mạnh, sống lâu. Nếu là người hay phẫn nộ, hay bất mãn, bị ai động đến một chút là sân hận, bất bình, cau có và chống đối. Tâm như vậy khiến cho người đó sinh ra xấu xí, khó ưa. Nhưng nếu có người tâm luôn hoan hỷ, biết kham nhẫn, không dễ nổi nóng, vv. Do (thiện) nghiệp ấy, người đó sinh ra dễ thương, xinh đẹp và khả ái. Nếu người có tâm tật đố, thấy người khác có quyền lợi, được cung kính, có danh tiếng, vv mà sinh tâm phẫn nộ, đố kỵ, ôm ấp tâm ghanh tỵ hiềm khích. Do nghiệp ấy, người đó tạo nhân (xấu) cho việc sinh ra có ít quyền thế, ít ảnh hưởng, thế lực nhỏ. Nhưng nếu ai không ghanh tỵ, không tật đố, hoan hỷ với thành công và hạnh phúc của người khác, đó là nhân để có quyền lực và ảnh hưởng lớn sau này.

Người keo kiệt với tâm tiểu nhân, không bố thí làm phước, không cúng dường các vật dụng cần thiết đến các bậc tu hành phạm hạnh, đó là nhân duyên khiến người nghèo khổ khốn khó. Và ngược lại, bố thí với tâm rộng rãi, làm phước, gieo duyên lành thì đó là nhân cho đời sống giàu sang sung túc. Tuy nhiên, tâm ngạo nghễ kiêu mạn, hay khinh khi và không biết tôn trọng những đối tượng nên tỏ sự tôn trọng, vv thì đó là nhân khiến người đó phải sinh vào nơi hạ tiện, thấp hèn. Nhưng với tâm khiêm nhường, lịch sự và biết tôn trọng, người sẽ đi đến nơi cao quí, sang cả và được kính trọng.

Những người biết học hỏi, có tâm ưu thích tìm hiểu khám phá, đi đến những vị thầy hay tìm các nguồn tài liệu đáng tin cậy để nghe và đọc, đặt ra các câu hỏi để tìm những câu trả lời xác đáng cho vấn đề, vv đó là nhân khiến những người ấy có trí tuệ, thông minh và uyên bác trong đời. Và ngược lại, không chịu học hỏi, không thích tìm hiểu khám phá, chấp chặt vào sở tri sở kiến hạn hẹp của mình thì không có trí tuệ, thiếu hiểu biết và chậm chạp trong nhận thức.

Qua pháp thoại về nghiệp này, chúng ta thấy rằng nghiệp là do tâm tạo. Những phẩm chất trong tâm của chúng ta được biểu hiện qua hành động, lời nói và việc làm lập đi lập lại tạo thành nghiệp lực dẫn dắt con người đến một kết quả nào đó tương ứng với nhân đã tạo. Chúng ta là chủ nhân ông của cuộc đời mình, thừa kế những nghiệp đã tạo tác trong quá khứ. Nghiệp lực đưa đẩy chúng ta đến một nơi tái sinh (thai tạng) tương xứng với những gì đã tạo tác. Nghiệp ràng buộc chúng ta trong một môi trường / tâm trạng nào đó (là quyến thuộc, là điểm tựa). Hành động của chúng ta tạo ra những nhân cách khác nhau và ràng buộc chúng ta trong những hình thức nhất định (phân chia hữu tình thành liệt hay ưu).

Để tóm lược quá trình tạo nghiệp, và định hướng cho mình trong cuộc đời này, có thể nói như sau: hãy cẩn thận với ý nghĩ của ta, vì nó sẽ biểu hiện thành lời nói và hành động. Hãy cẩn thận với lời nói và hành động hàng ngày, vì chúng sẽ trở thành thói quen cố hữu. Hãy cẩn thận với các thói quen của bản thân, vì chúng sẽ trở thành nhân cách của chúng ta. Và nhân cách của chúng ta luôn có khuynh hướng dẫn dắt chúng ta đến một số phận nào đó.

 

Khi chữ nghiệp được dùng như một triết lý về đời sống, nó hàm nhiều nghĩa sâu xa hơn, không phải là hoàn toàn tiêu cực như một năng lực bí ẩn khống chế một cá nhân nào đó. Thông thường, nếu ai đó biết chút ít về Phật giáo, nếu có điều gì xấu xẩy ra cho họ, họ cho rằng đó là do nghiệp của mình. Nói như vậy họ hàm nghĩa đó là kết quả của một nghiệp xấu trong quá khứ, bây giờ trổ quả và họ phải thọ lãnh không chối cãi được. Như vậy nghiệp ở đây mang tính thụ động, là kết quả của một chuỗi diễn tiến trong quá khứ cho đến hiện tại. Khi hiểu nghiệp như vậy, người ta mặc định nó là một cái gì đó như định mệnh, không thay đổi được.


Trang [1] 2 3
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI