• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Trở lại Nepal, chúng tôi quyết định đến thủ đô Kathmandu để tiếp tục khám phá vùng đất thần thánh và huyền bí. Vừa đặt chân xuống thung lũng này, chúng tôi hiểu rằng mình không phải là những kẻ duy nhất “bị” rơi vào từ trường thần tiên của nó. Theo truyền thuyết xa xưa, nơi đây là một hồ nước lung linh, thần Manruxuê mải mê mài gươm bên hồ đến nỗi nước hồ cạn hết để lại Kathmandu ngày nay. Kathmandu sầm uất mà trầm mặc

Chúng tôi đặt chân đến Kathmandu vào một ngày nghỉ khá an nhàn, thời khắc thành phố nằm ở miền Trung Nepal này trông hao hao giống phố phường Hà Nội những ngày chớm thu. Khí lạnh phả xuống thung lũng từ bốn bề non cao, khiến Kathmandu vốn trầm mặc mang dáng vẻ như một bông hoa nằm ẩn mình dưới chân Hy Mã Lạp Sơn. Khách du lịch khi đến đây không thể không đặt chân tới khu phố Tan-man sầm uất đầy khách nước ngoài với không khí nhộn nhịp của khu chợ Á Đông, với chút thảo nguyên ngay chốn công cộng và chút hối hả của thời đại công nghiệp. Những chiếc khăn quàng đầy màu sắc Ấn, chút nắng vàng của phố núi mùa đông… tất cả tụ lại và bùng lên tạo một nét đẹp riêng cho Kathmandu.

Cố đô Kathmandu

Cố đô Kathmandu

Dọc theo những con suối là những dãy cửa hiệu san sát nhau, đồ lưu niệm, vải vóc treo kín mặt tiệm, tràn cả xuống phố để thiên hạ không thể vô tình bước qua. Nghệ thuật chạm khắc tượng đồng và đồ lưu niệm, thờ cúng ở Nepal quả đã đạt đến trình độ siêu đẳng. Những người thợ đúc đồng xưa kia như đang hồi sinh ngay trên con phố này khiến nhiều du khách cứ ngẩn ngơ trôi đi trong không gian vừa cổ kính, vừa hiện đại trước sự pha trộn đầy thú vị giữa sắc màu bản địa và quốc tế. Tại đây, tranh Thangka, họa phẩm đặc dụng của Phật giáo Tạng truyền, được bày bán khắp nơi, đều nhắc cho chúng tôi nhớ rằng hai dòng chảy Phật giáo và Ấn giáo đang cùng tồn tại song hành, tưới lên đời sống người dân Nepal một suối nguồn đạo hạnh và đức tin. Khách lãng du cứ trôi đi từ phố này sang phố khác và chỉ có thể thoát ra với lời hẹn sẽ quay lại để cảm nhận thêm chút nữa về Kathmandu trong cái chậm chạp của một ngày trong thung lũng, cái hối hả của khách bốn phương cùng những suy tư và khát vọng hôm nay.

Nơi trú ngụ của của các vị thần Ấn giáo

Từ thung lũng Kathmandu, bạn có thể ngắm nhìn núi tuyết như một bức tường thành vĩ đại màu trắng. Kinh đô chìm sâu trong Hy Mã Lạp Sơn này là kho tàng của biết bao câu chuyện kỳ bí, là thế giới biệt lập của thần linh cùng những người dân sùng tín và những ngôi đền kỳ lạ. Một trong những ngôi đền như thế mà chúng tôi tới thăm là nơi thờ vị nữ thần Kali, một trong những vị thần nổi tiếng nhất của Ấn Độ giáo. Theo thống kế, hiện nay có khoảng 86% cư dân Nepal theo Ấn giáo, tôn giáo được coi là lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại, và tín ngưỡng này chính là một phần trong cuộc sống hằng ngày của người Nepal.

Các tu sĩ Ba-La-môn

Theo quan niệm của Ấn giáo, Kali là một vị ác thần rất thiêng, lại vừa khát máu, thích hủy diệt lại vừa sẵn sàng ban ơn cứu giúp các tín đồ nên được mọi người sùng bái. Kali chính là vị nữ thần bảo hộ của thành Kathmandu. Theo truyền thuyết, bà là một trong những người vợ của thần hủy diệt Shiva vĩ đại. Ấn Độ giáo có ba vị thần tối thượng, đứng đầu hàng triệu vị thần khác là Prahma, Vishnu và Shiva. Hình tượng thần Kali với miệng bà thường hoác ra, lưỡi lè, bông tai là xác những người đàn ông, chuỗi hạt là những sọ người, trang sức là những con rắn. Không chỉ có chức năng hủy diệt, nữ thần Kali còn trông coi việc sinh sản, vừa tàn ác lại vừa hiền hậu. Trong lúc hủy diệt, bà vẫn ban phước và giúp cho vạn vật sinh sôi, đó chính là hai mặt của một vấn đề là nhân sinh quan, vũ trụ quan của Ấn giáo.

Trong khi đó, thần Vishnu sẵn sàng cứu nhân độ thế bảo tồn muôn vật, và cùng vợ mình là Kali có trọng trách cân bằng lại vạn vật, bảo đảm cho sự tiến triển không ngừng theo quy luật sinh diệt. Người Ấn giáo quả thật mơ mộng khi tin vào thuyết luân hồi, nhưng cũng là bậc thầy về óc thực tế khi biết nhìn thẳng vào luật sinh diệt để chấp nhận những giới hạn khả năng của con người. Họ không chỉ rung lên những hồi chuông để tôn vinh các thánh thần, để cầu phúc, cầu an mà còn là để cảnh tỉnh bản thân và đồng loại rằng cuộc đời con người là rất ngắn cần phải tiến lên nhưng cũng phải biết dừng lại.

Đặc điểm kiến trúc đền đài và cung điện ở Nepal là những tòa tháp nhiều tầng, mái nhỏ dần lên cao trông rất huyền bí và bề thế. Chúng tôi tới thăm đền thờ thần Radet ở ven bờ một con sông là chi lưu của sông Hằng trong lòng kinh đô Kathmandu. Trong các ngôi đền thường có một hoặc nhiều giáo sĩ Bàlamôn ngồi tụng niệm và ban phước. Bạn sẽ phải trả một số tiền nhỏ tượng trưng để được giáo sĩ chấm lên trán một chấm đỏ may mắn, hoặc nghe những lời giáo huấn trong kinh sách. Các vị này thuộc đẳng cấp cao nhất của xã hội, có quyền lực tinh thần rất lớn và thường là cha truyền con nối, là nền tảng xã hội tín ngưỡng được tôn kính.

Trong Ấn Độ giáo không chỉ có thần người mà còn có thần động vật, thực vật, đồ vật… tất cả đều có linh hồn, có uy quyền, trí thức, thần thông và năng lực rất lớn. Không ai có thể biết hết được các vị thần, kể cả những giáo chủ, những nhà thông thái. Vì mỗi vị thần đều có nhiều hóa thân, cứ nối tiếp mãi ra thành vô tận. Tại khu đền Radet có một tảng đá thờ rất linh nghiệm, có thể cầu xin chữa bệnh. Trên đường hành hương đến Ấn Độ và Nepal, nói cách khác trên toàn bộ lưu vực rộng lớn của sông Hằng, chúng tôi đã sa vào một trận đồ bát quái của Ấn Độ giáo, quá đa dạng và phong phú, độc đáo và li kỳ, càng đi, càng nhận ra tầm cỡ vĩ đại của nền văn minh sông Hằng.

Lịch sử sơ khai của đất nước Nepal bắt đầu từ thung lũng Kathmandu mà 200 ngàn năm trước còn là một hồ nước khổng lồ. Tới năm 300, vương triều Ly-tra-vi đã tạo dựng cái được gọi là kỷ nguyên vàng lần thứ nhất của Nepal, đồng thời du nhập Ấn giáo và Phật giáo vào vương quốc này.

Rời thủ đô Katmandu, chúng tôi đến thăm khu vực hoàng thành cũ, nơi tọa lạc những công trình kiến trúc chủ yếu và lộng lẫy nhất của cố đô Bharatpur ở vùng hạ Hy Mã. Khi tới các thành phố cổ dù xa lạ với quê hương đất nước mình, chúng tôi đều thấy bồi hồi, xúc động. Điều huyền bí nào đã tạo nên trạng thái tâm lí đó? Thật khó trả lời, song có lẽ đó là thời gian. Thời gian đã làm cho bộ mặt thế giới thay đổi liên tục tạo nên sự hoài cảm, đã làm cho ta giật mình, sực tỉnh. Thời gian tàn nhẫn và công bằng, lạnh lùng nhưng ân cần nhắc nhở chúng ta như chính thần Shiva cùng với tiếng chuông cảnh tỉnh về quy luật sinh diệt của ngài vậy. Cuộc đời luôn có âm, dương, có sinh diệt, có thiện ác. Thông điệp đó của Ấn giáo và cả của Phật giáo nữa bay đến mọi góc biển chân trời, ngay từ những quảng trường, góc phố ở cố đô cổ kính này.

Sự già nua và tàn tạ biểu hiện đó đây trong nhiều ngõ ngách của kinh thành. Song Bac-ta-bua không hề có ý nghĩ đầu hàng trước sự công phá của thời gian và sự lãng quên của thế giới hiện đại. Nó lặng lẽ gặm nhấm nỗi cô đơn để tồn tại và hiểu rằng những gì còn lại sau quá trình tiến hóa đều là những giá trị đích thực. Đó là lí do mà trong những năm gần đây khách vãng lai ngày càng nhiều, chính Hy Mã Lạp Sơn tráng lệ và kinh thành cổ kính đã làm cho du lịch trở thành một trong những ngành công nghiệp lớn nhất đất nước Nepal.

Suốt cuộc hành trình khám phá huyền bí sông Hằng, chúng tôi đã trải qua không biết bao nhiêu khoảnh khắc bồng bềnh giữa những vẻ đẹp vô tiền khoáng hậu của thiên nhiên dù đó chỉ là một điểm hừng đông hay lúc chiều tà. Từng ngợp thở khi nhìn thấy ngọn Everest kiêu sa đầy uy lực, giờ đây chúng tôi lại thẫn thờ khi đối diện với buổi bình minh trong cái thanh không gần như tuyệt đối trên một trường núi Nepal. Màn đêm như được tách ra làm đôi theo vết cắt của dãy núi tạc trên nền trời hé lộ đường nứt kỳ tuyệt của đỉnh Ranet cao 7.400m. Trong phút chốc mặt trời xuất hiện, chúng tôi như đứng trước sự biến đổi kỳ tuyệt ngay chân trời. Trong màn sương mỏng, những đỉnh non cao vẫn mơ màng và cả thung lũng phía dưới cũng chìm trong giấc ngủ say nồng.

Trên trường núi Nepal, màn đêm như được tách ra làm đôi theo vết cắt của dãy núi tạc trên nền trời hé lộ đường nứt kỳ tuyệt của đỉnh Ranet cao 7.400m. Trong phút chốc mặt trời xuất hiện, chúng tôi như đứng trước sự biến đổi kỳ tuyệt ngay chân trời.

Buổi sớm mai trong thung lũng chuyển mình chậm. Theo dấu vết của từng tia nắng trong cái mờ ảo, ảm đạm của khói sương, trong không gian sâu thẳm và thuần khiết, lòng lữ khách bay bổng như vô tình lạc chân vào cõi mơ tiên. Khi ngắm nhìn những bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ, chúng tôi hiểu rằng Nepan đang âm thầm thu hút một phần của thế giới hiện đại đến với mình một cách khôn ngoan và cẩn trọng.

Trở lại Kathmandu, chúng tôi ghé thăm một công trình tôn giáo có một vị trí quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người dân Nepal theo đạo Phật. Nhìn từ xa, người ta biết ngay đây là tháp của Phật giáo Tạng truyền. Những tấm vải Ha đạt ngũ sắc bay rợp trời. Đôi mắt Phật đầy minh triết và uy lực. Âm hưởng của lòng thành kính và mộ đạo vang vọng khắp nơi.

Đó là khu đền tháp Buddanat, tức tháp thờ xá lợi của một vị cổ Phật. Theo người dân Nepal, tháp Buddanat được khởi dựng vào thế kỷ thứ 5 do công chúa của vua Nepal “năn nỉ” vua cha nhiều lần để được tự mình xây một cái tháp thờ vị cổ Phật, và sau đó đã thành một thánh địa của Phật tử xứ Nepal. Nepal là một đất nước sống rất hài hòa giữa Phật giáo và Ấn giáo, nên rải rác khu di tích, chúng ta có thể thấy được những thánh tích Phật giáo và Ấn giáo xen lẫn với nhau. Đến năm 1959, người dân trong vùng đã coi khu đền tháp Buddanat này là một biểu tượng, và là một linh địa linh thiêng nhất nằm ngoài xứ Nepal và người dân Tây Tạng. Do vậy, hàng năm người dân Tây Tạng về đây hành hương chiêm bái rất đông. Khác với các thánh địa Phật giáo trên đất Ấn, các công trình Phật giáo ở Nepal đều mang đậm dấu ấn Phật giáo mà cái chính là Phật giáo Tạng truyền.

Chúng tôi rảo bước một vòng quanh bảo tháp Buddanat với mong muốn có thể cảm nhận tối đa không khí linh thiêng của một thánh địa Phật giáo Tạng truyền, và lòng thành kính cùng hướng về chiều sâu tâm linh nơi đây. Chúng tôi lần sâu thêm vào thung lũng Kathmandu để đến với cố đô Patan còn cổ kính hơn cả Bharatpur. Thành phố được hình thành vào năm 299 sau công nguyên. Bên trong cố đô nhỏ bé này có một di sản văn hóa của nhân loại rất độc đáo mà người ta quen gọi là chùa Đồng, vì nó được làm bằng đồng. Chùa là một tòa kiến trúc rất bề thế theo kiểu tứ hợp diện, lấy khoảng sân vuông ở giữa làm trung tâm, với một điện thờ làm tâm điểm, các công trình khác vây quanh.

Cảm xúc đầu tiên dạt dào, mạnh mẽ đến với du khách là từ “đồng”, đâu cũng thấy đồng. Kiến trúc chùa được sử dụng có 3 vật liệu chính là: gỗ, đồng và gạch nung. Chúng tôi đã từng thấy những ngôi đền Ấn giáo ở Lào và Campuchia biến thành nơi thờ Phật bởi sự suy vong của Ấn Độ giáo ở những nước này. Còn ở đây thì ngược lại, Ấn giáo đã lấn dần Phật giáo, đúng là cuộc sống xoay chiều theo sự hưng vong của thế sự. Chùa Đồng đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Thật sự đây là một chùa (đền) của Phật giáo, một ngôi chùa Phật giáo chuyên thờ đức Quan Thế Âm thuộc dòng phái Mật tông, bây giờ đã biến thành một ngôi đền của Ấn Độ giáo.


Trang [1] 2
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI