• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Dhammapada Sutta
(Khuddaka Nikaya - Sutta Pitaka)

Nếp sống đạo hạnh và trí tuệ trong Kinh Pháp Cú

HT. Thích Minh Châu

 

Kinh Dhammapada theo một phân loại là tập thứ II trong mười lăm tập thuộc Tiểu Bộ Kinh, theo truyền thống được xem là bộ Kinh được kết tập vào kỳ kết tập thứ nhất, ba tháng sau khi Ðức Phật nhập diệt, trích dẫn từ những bài kinh đặc sắc nhất của Ðức Phật trong suốt 45 năm thuyết pháp của Ngài, và như vậy vừa chứa đựng những tinh hoa nguyên thủy nhất của lời Phật dạy, vừa tập trung những lời dạy căn bản của Ðức Bổn Sư về Giới Ðịnh Tuệ, tức là tiến trình giải thoát và giác ngộ, được Ðức Phật thân chứng và giảng dạy lại cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài.

Dhamma có nghĩa là Pháp. Pada có nghĩa là Câu. Dhammapada tức là những câu ghi chép lại lời dạy Ðức Phật, nên được dịch là Pháp Cú. Dhamma cũng có nghĩa là Pháp, tức chân lý, giác ngộ, giải thoát. Pada cũng có nghĩa là bước chân. Như vậy Dhammapada là những bước chân đưa đến chân lý, giác ngộ và giải thoát. Và mọi lời dạy của Ðức Phật được thâu gọn trong tiến trình Giới-Ðịnh-Tuệ, là pháp môn đưa đến giác ngộ và giải thoát, hay nói một cách hiện đại hơn, Giới-Ðịnh-Tuệ là nếp sống đạo hạnh và trí tuệ được tập trung trong Kinh Pháp Cú này, và đây là đề tài chúng tôi muốn trình bày với quý vị trong mùa Lễ Vu Lan để cúng dường Tam Bảo.

 

1. Giới (Siia):

Trong nghĩa đầu tiên có nghĩa là: "Chớ làm điều ác" "Hãy làm các hạnh lành" như bài kệ khuyên không nên làm điều ác, nên làm điều lành của Ðức Phật. Giới là bước đầu đi đến Thiền Ðịnh nên được ghi chép gọn ghẽ trong mấy chữ "Ly dục ly pháp bất thiện", mở đầu cho điều kiện chứng đắc thiền thứ nhất. Giới sau này được chia thành giới của bậc xuất gia, được cô đọng thành những pháp môn: "Sống thành tựu giới uẩn thanh tịnh, hộ trì các căn, có tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác". Giới cho các bậc tại gia được ghi chép trong năm giới cấm: "Không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh trong các dục, không nói láo, không say đắm rượu men, rượu nấu". Năm giới này được phân tách ra thành mười hạnh lành: "Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ lời nói phù phiếm, không có tham, không có sân, không có tà kiến". Từ nơi nếp sống giới đức này, người hành giả không có hối hận nên tâm được hân hoan, nhờ tâm hân hoan, đưa đến hoan hỷ, nhờ tâm hoan hỷ nên thân được khinh an, nhờ thân khinh an đưa đến lạc thọ, nhờ lạc thọ tâm được định tĩnh nhất tâm. Ðó là tiến trình từ Giới đưa đến Ðịnh.

Trước hết, nghĩa ưu tiên của Giới là từ bỏ các điều ác, thành tựu các hạnh lành, và định nghĩa bỏ ác làm lành được Kinh Pháp Cú đề cập đến một cách hết sức phong phú, súc tích và rõ ràng, như những bài kệ sau đây làm sáng tỏ:

"Hãy gấp làm điều lành,
Ngăn tâm làm điều ác.
Ai chậm làm việc lành,
Ý ưa thích việc ác". (Pháp Cú 116)

"Nếu người làm điều ác,
Chớ tiếp tục làm thêm.
Chớ ước muốn điều ác,
Chứa ác, tất chịu khổ". (Pháp Cú 117)

"Nếu người làm điều thiện,
Nên tiếp tục làm thêm.
Hãy ước muốn điều thiện,
Chứa thiện, được an lạc". (Pháp Cú 118)

"Chớ chê khinh điều ác,
Cho rằng 'chưa đến mình',
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi bình cũng đầy tràn.
Người ngu chứa đầy ác
Do chất chứa dần dần". (Pháp Cú 121)

"Chớ chê khinh điều thiện
Cho rằng 'chưa đến mình',
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi bình cũng đầy tràn.
Người trí chứa đầy thiện,
Do chất chứa dần dần". (Pháp Cú 122)

"Ác hạnh không nên làm,
Làm xong, chịu khổ lụy,
Thiện hạnh, ắt nên làm,
Làm xong, không ăn năn". (Pháp Cú 314)

"Ít bạn đường, nhiều tiền,
Người buôn tránh đường hiểm.
Muốn sống, tránh thuốc độc,
Hãy tránh ác như vậy". (Pháp Cú 123)

Như vậy, Giới được định nghĩa là "không làm các điều ác, làm các hạnh lành", và định nghĩa đầu tiên của người Phật tử là không làm những gì có hại mình, hại người, hại cả hai, và tích cực làm những gì về thân, về lời, về ý, có lợi mình, lợi người và lợi cả hai. Người Phật tử là người luôn luôn cố tránh các điều ác, luôn luôn cố gắng làm các hạnh lành.

Sở dĩ Ðức Phật khuyên bỏ ác làm lành, vì người làm điều ác sẽ chịu quả khổ đau, còn người làm điều lành sẽ được sống an lạc, không những trong đời này, mà còn cả đời sau nữa, như các bài kệ sau đây chứng tỏ:

"Nay sầu, đời sau sầu,
Kẻ ác, hai đời sầu ;
Nó sầu, nó ưu não,
Thấy nghiệp uế mình làm". (Pháp Cú 15)

"Nay than, đời sau than,
Kẻ ác, hai đời than,
Nó than: "Ta làm ác"
Ðọa cõi dữ, than hơn". (Pháp Cú 17)

Trái lại người làm lành:

"Nay vui,đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui,
Nó vui, nó an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm" (Pháp Cú 16)

"Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Nó sướng: 'Ta làm thiện',
Sanh cõi lành, sướng hơn". (Pháp Cú 18)

Trong một bài kệ khác, Ðức Phật nêu rõ mười loại khổ đau chờ đợi người làm hại người làm thiện, người dùng trượng hại người không dùng trượng:

"Hoặc khổ thọ khốc liệt,
Thân thể bị thương vong,
Hoặc thọ bệnh kịch liệt,
Hay loạn ý tán tâm.

Hoặc tai vạ từ vua,
Hay bị vu trọng tội ;
Bà con phải ly tán,
Tài sản bị nát tan.

Hoặc phòng ốc nhà cửa
Bị hỏa tai thiêu đốt.
Khi thân hoại mạng chung,
Ác tuệ sanh địa ngục". (Pháp Cú 138-139-140)

"Một số sinh bào thai,
Kẻ ác sinh địa ngục,
Người thiện lên cõi trời,
Vô lậu chứng Niết Bàn". (Pháp Cú 126)

Ðối với người tại gia, Ðức Phật khuyên giữ năm giới và những ai phạm năm giới này, tự đào bới gốc mình trong đời này và đời sau:

"Ai ở đời sát sinh,
Nói láo không chân thật,
Ở đời lấy không cho,
Qua lại với vợ người.

Uống rượu men, rượu nấu,
Người sống đam mê vậy,
Chính ngay tại đời này,
Tự đào bới gốc mình". (Pháp Cú 246-247)

Bài kệ kế tiếp nói lên những tai họa chờ đợi người phóng dật theo vợ người:

"Bốn nạn chờ đợi người,
Phóng dật theo vợ người ;
Mắc họa, ngủ không yên,
Bị chê là thứ ba,
Ðọa địa ngục, thứ bốn".

"Mắc họa, đọa ác thú,
Bị hoảng sợ, ít vui.
Quốc vương phạt trọng hình.
Vậy chớ theo vợ người". (Pháp Cú 309-310)

Ðối với đạo Phật, Giới bao giờ cũng là bước đầu trên lộ trường Giới-Ðịnh-Tuệ, là những căn bản đạo đức đứng hàng đầu trong đạo hạnh của người xuất gia và tại gia. Và trong Kinh Pháp Cú này, chúng ta chứng kiến những lời tán thán rất tuyệt đẹp đối với những người có giới hạnh. Trước hết, trong các loại hương, giới hương là đệ nhất:

"Hương các loại hoa thơm 
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tõa khắp mọi phương trời". (Pháp Cú 54)

"Hoa chiên đàn, già la,
Hoa sen, hoa vũ quý.
Giữa những hương hoa ấy,
Giới hương là vô thượng" (Pháp Cú 55)

"Ít giá trị hương này,
Hương già la, chiên đàn ;
Chỉ hương người đức hạnh,
Tối thượng tỏa Thiên giới". (Pháp Cú 56)

Người giữ giới, không những được tán dương là tối thượng. Người giữ giới còn được xem là người có sức mạnh đương đầu với Ác Ma:

"Ai sống quán bất tịnh,
Khéo hộ trì các căn,
ăn uống có tiết độ,
Có lòng tin, tinh cần,
Ma không uy hiếp được,
Như núi đá, trước gió". (Pháp Cú 8)

"Giữa ai có giới hạnh,
An trú không phóng dật.
Chánh trí, chơn giải thoát,
Ác ma không thấy đường". (Pháp Cú 57)

"Ðây điều lành Ta dạy,
Các người tụ họp đây,
Hãy nhổ tận gốc ái
Như nhổ gốc cỏ Bi.
Chớ để ma phá hoại,
Như giòng nước cỏ lau". (Pháp Cú 337)

Không những giới có khả năng chống đỡ được Ác Ma, làm cho Ác Ma không thấy đường, Giới còn có khả năng đem đến an lạc cho người giữ giới:

"Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù !
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù !" (Pháp Cú 197)

"Vui thay, chúng ta sống,
Không bệnh giữa ốm đau !
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau". (Pháp Cú 198)

"Vui thay, chúng ta sống,
Không rộn giữa rộn ràng ;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng". (Pháp Cú199)

"Lửa nào sánh lửa tham ?
Ác nào bằng sân hận ?
Khổ nào sánh khổ uẩn,
Lạc nào bằng tịnh lạc". (Pháp Cú 202)

"Lành thay, phòng hộ mắt !
Lành thay, phòng hộ tai !
Lành thay, phòng hộ mũi !
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay phòng hộ thân !
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau". (Pháp Cú 360-361)

Và cuối cùng, Giới đem lại ánh sáng cho người hành trì, và được chói sáng như núi Tuyết:

"Người lành dầu ở xa
Sáng tỏ như núi tuyết,
Người ác dầu ở gần
Như tên bắn đêm đen". (Pháp Cú 304)

"Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che". (Pháp Cú 173)

 

2. Thiền Ðịnh:

Thiền định được xem là pháp vô lậu thứ hai, đưa đến trí tuệ và giải thoát. Người hành giả sau khi giữ giới, đi đến ngoài trời, dưới một gốc cây, hay một nhà trống, rồi ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt. Người hành thiền an trú niệm trên thân, loại trừ năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm, thụy miên, trạo hối, nghi và thành tựu năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Như vậy Thiền có mục đích trong sạch hóa năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, khởi lên tầm tứ để điều phục tâm tư, nhờ vậy mà thân tâm được hoan hỷ, khinh an và an lạc, và từ lạc đưa đến thiền định và nhất tâm.

Do vậy, Ðức Phật đã tán thán khá nhiều thiền định trong tập Kinh Pháp Cú:

"Dầu sống một trăm năm,
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định".

Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định". (Pháp Cú 110-111)

"Người chế ngự tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nội thiền định.
Ðộc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi tỷ kheo". (Pháp Cú 362)


Trang [1] 2 3
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI