• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Phật Giáo Hôm Nay Và Ngày Mai

Tiến sĩ Nandadeva Wijesekera 
Diệu Hương dịch


Rõ ràng rằng Phật giáo rất cần cho thế giới hiện đại ngày nay mặc dù Phật giáo đã xuất hiện hơn 2.500 năm rồi. Bởi vì thông điệp của Phật giáo luôn luôn phù hợp với mọi thời đại. Thông điệp này mang đến tình thương, lòng từ bi, an lạc, hạnh phúc và hòa bình.

-oOo-

Hòa bình là một đặc tính mà thế giới hiện tại đang bàn bạc và đây là điều quan tâm nhất của các nhà lãnh đạo và các tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một số đông quần chúng không có tin hẳn vào bức thông điệp do Ðức Phật tuyên bố, vì hai lý do:

Một là thông điệp hoà bình, tình thương và hạnh phúc của Ðức Phật cho tất cả chúng sanh đã được tuyên thuyết ở một giai đoạn khi mà các châu lục bị phân chia bởi vật lý, địa lý, ngôn ngữ, và chủng tộc. Sự cô lập của địa lý, sự giới hạn của thông tin và bị hạn chế theo từng vùng đã khiến cho mê tín tràn lan và Phật pháp không được san sẻ. Trong một tình hình như vậy cái không biết (tri thức) lấn át cái biết thì dù các nước hiện tại đã phát triển nhiều về khoa học kỹ thuật trong thế giới hiện đại thì cũng sẽ trở nên không phát triển hoặc đang phát triển, vì dân chúng sống trong các lục địa rộng lớn này sẽ không có cơ hội để nghe, biết và hiểu những tinh hoa của giáo lý Ðức Phật.

Một yếu tố khác chống lại sự phát triển truyền bá thông điệp của Ðức Phật là phương thức phổ biến tôn giáo. Có tôn giáo đã truyền bá bằng gươm đao và chiếm đoạt. So với điều này, Ðạo Phật là một tôn giáo không có lực lượng vũ trang, cũng không có thánh chiến trong việc truyền bá giáo lý. Ðạo Phật đã lan rộng một cách từ từ nhưng vững vàng chắc chắn đến tất cả các trục lộ giao thông của các nước mà Ấn Ðộ có quan hệ ngoại giao như: Tây Tạng, Trung Quốc, Ðại Hàn, Nhật Bản và Trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ. Hoàng đế A-dục cũng đã gởi những đoàn truyền giáo Phật giáo gồm tu sĩ và cư sĩ tới các kinh đô ở phía Ðông và Tây. Vua A-dục cũng phái hai người con của mình là Hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamitta tới Tích Lan để truyền bá Phật giáo. Chính công chúa Sanghamitta đã mang một cây Bồ-đề con (Ficus religiosa) của cây Bồ-đề nơi Ðức Phật thành đạo tới Tích Lan. Cây này cho tới nay vẫn còn sum suê xanh tốt và được xem là một cây Bồ-đề có lịch sử cổ xưa nhất trên thế giới. Cây Bồ-đề này là biểu tượng của sự giác ngộ. Từ Tích Lan và Ấn Ðộ, Phật giáo lại được truyền đến Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Cam-pu-chia và Nam Dương.

Ngày nay thế giới đang được thu hẹp trong kích thước. Các quốc gia đang phát triển và chưa phát triển đã có tiến bộ về khoa học kỹ thuật, trong khi các nước đã phát triển rồi lại trở nên đang phát triển. Trong kỷ nguyên này, việc đi lại trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi. Thông tin thì nhanh tức thời. Vì vậy sự phong phú về kiến thức là di sản chung của tất cả mọi người và do đó thông điệp của Ðức Phật đã được lan truyền đến các nơi trên thế giới.

Vài Nhận Xét

Mặc dù với kiến thức sẵn có ở mỗi người nhưng vẫn còn có sự phê bình chỉ trích Phật giáo cũng như nhưng quan niệm và nhận thức sai lầm đối với các lời dạy của Ðức Phật. Cũng còn có những người có học thức hiểu biết đã cố gắng đánh đồng Phật giáo với Ấn Ðộ giáo. Cũng có những người uyên bác đã nghĩ rằng Phật giáo đã không có khác với các tôn giáo hữu thần khác. Thậm chí, có một số người cho rằng Phật giáo thì đầy những niềm tin và tu tập mê tín. Nhìn từ bên ngoài, các điều này dường như là mâu thuẫn khiến ngăn trở sự hòa hợp về ý thức hệ của các tôn giáo. Sự dường như khác nhau này đúng hơn là chỉ do sự hiểu lầm, thông tin sai lạc và sự trình bày không đúng với những di sản văn hóa và những động lực xã hội mà những mô hình phức tạp của nó đồng thời tồn tại trong một cách thức không phô trương trong xã hội đa dạng. Do đó, để hiểu bản chất của lời dạy Ðức Phật thì rất cần thiết và là điều cốt lõi để nghiên cứu sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo đang tồn tại khác để chúng ta có thể làm rõ hơn lời dạy của Ðức Phật.

Các tôn giáo khác có chủ trương để thỏa mãn các khuynh hướng tâm lý, các thái độ hoài nghi và hiếu kỳ của những người khác; các phương pháp tư duy và lòng tin của họ thì quá nhiều đến nỗi mọi sự nghi ngờ đều được giải quyết với phương pháp tốt nhất. Một số những lời giải thích này là dựa trên trí sáng suốt của Ðấng Tạo hóa, dựa trên lòng từ bi bác ái quảng đại của Ngài. Người ta cũng nói rằng một số các yếu tố nền tảng này thì không được đặt thành vấn đề nữa. Vài người chấp nhận tôn giáo dựa trên đức tin mù quáng hoặc trên những giáo điều độc đoán. Tuy nhiên, những yếu tố này là nhằm thỏa mãn tâm linh của những người mộ đạo. Ðối với họ không có vấn đề gì. Lo-gic và lý lẽ phải đưa đến lòng sùng đạo. Lòng tín duy lý, lý luận khoa học, và cách giải thích hợp lý ở mỗi tôn giáo thì có khác nhau. Ðiều này khẳng định rằng các phương pháp và các kỹ xảo hiện đại không có chủ định và không thể áp dụng trong trường hợp của tôn giáo. Về cơ bản, tôn giáo được coi là khác với khoa học, bởi vì với họ tôn giáo chính là sự mặc khải - mệnh lệnh của Thượng Ðế. Còn ngược lại, Phật giáo thì lại rất hoan nghênh, khuyến khích tinh thần nghiên cứu, suy tầm, quán sát nội tâm một cách hợp tình, hợp lý và đầy khoa học. Ðiều này đã được minh chứng trong kinh Kalama nổi tiếng mà trong đó Ðức Phật đã dạy như sau:

"Này các Kalama, đừng nên dựa vào những gì đã được nghe nhiều lần, cũng không dựa trên truyền thống, trên tin đồn, chân lý, triết lý lô-gích, thành kiến, năng lực và sự quan tâm của người khác, cũng như không dựa vào ngay cả thầy của chúng ta."

Thông thường, có người nói chống Phật giáo vì rằng họ cho rằng Phật giáo tin vào Thượng đế, chấp nhận đức tin tầm thường và thờ phượng cây cối, những hình tượng, trời đất, mặt trăng và các tinh tú. Ở đây những người chỉ trích này đã phạm lỗi là trộn lẫn các giá trị văn hóa, các tập quán xã hội và những đức tin truyền thống trong nhiều giai đoạn khác nhau của sự thăng hoa lịch sử xã hội. Những người chỉ trích này đã quên hoặc không biết rằng đạo Phật không bao giờ loại bỏ cách sống hiện hữu và các giá trị văn hóa của đời sống bằng cách áp đặt một cách sống mới lên trên đó mà trái lại đạo Phật uyển chuyển tìm cách thích nghi đời sống văn hóa của mỗi xã hội mà không lạc mất tinh thần của mình.

Trong tính cách như thế, nếu những người có hoài nghi, chỉ trích và quán sát như vậy sẽ chất vấn một Phật tử, liệu vị ấy có tin vào một mớ hỗn độn của những khái niệm này không, thì vị Phật tử sẽ trả lời là "có" và cũng có thể là "không," bởi vì lòng tin con người thì dễ dàng thích hợp, sẽ không có điều gì không hợp lý trong cách tư duy, lô-gích, trong tổ chức của các lực lượng và năng lực cơ bản của cũ và mới, của không biết và huyền bí. Ðối với cá nhân này, Phật giáo và các giới luật đứng trên nền tảng đỉnh cao của niềm tin và mê tín cũ và Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) được đặt ở vị trí cao nhất.

Một trong những điểm đáng lưu ý nhất của Phật giáo là ở chổ có Phật tử đã tin có thần thánh trong tôn giáo của mình. Cho nên vị ấy cầu nguyện thì hẳn chúng ta không nên lầm lẫn với Phật tử chân chánh là những người đang tu tập chuyển hóa mình đến trạng thái tâm hoàn thiện- Niết-bàn. Vị ấy ắt hẳn chưa có phẩm chất tư lực như Ðức Phật đã dạy. Người có đức tin chân chánh trong niềm tin tôn giáo của họ, thì tin có năng lực thiện ác, thiện thần và những năng lực siêu nhiên nhân từ và Ðức Phật chiếm giữ vị trí cao nhất trên tất cả các thiện thần

Trong một ý muốn mạnh mẽ để cải đạo, những nhà truyền giáo của tôn giáo khác đã phá hủy tinh thần xã hội, biến họ thành ngu đần và trở thành một mẫu văn hóa và chủng tộc xa lạ. Sự hăm hở của họ là để thay đổi giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống, và những luân lý xã hội sẽ trở thành các hình thức, sắc thái tinh thần của sự nỗ lực thay đổi đó để bắt buộc tôn giáo khác cùng với các văn hóa của nó thành những gì mà họ nghĩ là một nhóm thấp hơn. Vì vậy, họ đã nỗ lực thay đổi văn hóa, xã hội và tinh thần quốc gia của một dân tộc. Những tình trạng như vậy gây ra sự thiệt hại mà không thể phục hồi được về mặt xã hội và tâm lý bởi vì các nhà truyền giáo đã khử trừ sức sống, và lần lượt làm tê liệt ý chí vươn lên. Bề ngoài, sự cải đạo như vậy dường như có vẻ thành công nhưng bên trong, các lãnh vực tâm lý của con người, niềm tin và các giá trị cũ vẫn còn tiềm ẩn làm mờ đi tất cả những ánh sáng bên ngoài của các tôn giáo mới. Từ đó, trong xã hội này sẽ nảy sinh một sự mâu thuẫn không chỉ về văn hóa và chủng tộc mà còn cả về tôn giáo nữa.

Bất kỳ nơi nào, Phật giáo cũng được nhìn nhận là các lời dạy của Ðức Phật không bao giờ xung đột với các giá trị truyền thống của xã hội mới. Cũ và mới, cổ và tân đồng tồn tại bên nhau. Khi tâm đã hướng thượng và đạt tri kiến cao, thì những phạm vi bùa chú và mê tín, y học và khoa học trở nên yếu đi. Sự tổng hợp này xảy ra toàn bộ hay từng phần và tiến trình được tiến triển cho đến ngày nay. Do đó đối với những người quan sát thiển cận, nhà phê bình và những nhà truyền giáo cứng nhắc, thì những điều này dường như mâu thuẫn không thể hòa hợp với nhau được. Kết quả là họ lên án Phật giáo là vô minh và có sự khác biệt khi họ quán sát lời Ðức Phật dạy. Họ đã suy diễn liên hợp với ảo tưởng, ngay cả chỉ như một phương tiện kỹ xảo tạm thời của con người để đáp ứng sự căng thẳng tâm lý hoặc những khủng hoảng tình cảm thì không phải không là những tín ngưỡng cần thiết. Thêm vào đó, thật là tức cười, vì họ vẫn chấp nhận nhu cầu của con người cho sự sống còn để đạt đến trạng thái hạnh phúc an lạc tối thượng và điều này chỉ đạt được khi diệt trừ các điều ác. Trái lại Phật tử biết rằng tất cả các pháp là vô thường, khổ và vô ngã.

Hiểu Giáo Lý Của Ðức Phật

Muốn khẳng định rằng tôn giáo trên căn bản có khác với sự hợp lý hóa của khoa học, thì chúng ta có thể lấy lập luận của A-tỳ-đàm để trả lời cho vấn đề này. Về cơ bản, các giáo lý thâm sâu của Ðức Phật gần gũi với khoa học như là sắc và tâm (nama-rupa). Lời dạy chính yếu của Ðức Phật là:

"Không làm các điều ác, 
Vâng giữ các điều lành, 
Làm thanh tịnh tâm ý 
Ðó lời chư Phật dạy"

Ðiều này xin được nói rộng thêm rằng tất cả các pháp do kết hợp mà thành thì đều là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Vì vậy một chúng sanh không gì khác hơn là danh và sắc. Sắc là sự biểu thị của những năng lực. Người xưa đã xem chúng như nguyên tử (paramanu). Ðức Phật thì coi chúng như là những thành tố nền tảng của sắc chất. Từ đó chúng ta biết rằng Phật giáo rất cập nhật với những khám phá của khoa học mới đây nhất về bản chất của sự sống.

Theo Phật giáo, sanh được xem là sự hiện hữu. Tiến trình của hiện hữu sẽ được tiến hóa theo dòng thời gian khởi đầu do bởi vô minh rồi tạo ra một chuỗi mắt xích nhân duyên (paticca-samuppada). Chuỗi nhân duyên đó được thành lập như sau:

1. Do vô minh, hành khởi 
2. Do hành, thức khởi 
3. Do thức, danh sắc khởi 
4. Do danh sắc, lục nhập khởi 
5. Do lục nhập, xúc khởi 
6. Do xúc, thọ khởi 
7. Do thọ, ái khởi 
8. Do ái, thủ khởi 
9. Do thủ, hữu khởi 
10. Do hữu, sanh khởi 
11. Do sanh, lão tử khởi.


Trang [1] 2
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI