• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Dẫn nhập

Sau khi Ðức Thế Tôn nhập-diệt, tôn-giả Ma Ha Ca Diếp (Mahàkassapa) lãnh đạo 500 vị A la hán mở đại hội kết tập pháp tạng lần thứ nhất. Kế đến, khoảng 100 năm sau, 700 vị A la hán lại kết tập pháp tạng lần thứ hai, dưới sự chủ trì của trưởng lão Nhất Thiết Khứ và Ly Bà Ða. Thế rồi, cách chừng 118 năm sau đó, 1000 vị A la hán lại kết tập pháp tạng lần thứ ba, dưới sự chủ trì của tôn giả Mục Kiền Liên Tử Ðế Tu (Moggaliputta-tissa). Lần kết tập này mới bắt đầu biên tập luận điển. Sau đó, vương tử Ma Sẩn Ðà (Mahinda) đem Tam tạng này truyền sang Tích Lan và được gọi là Tam tạng Thánh giáo Pàli (Pàli Tipitaka). Các điển tịch Ðại Tạng kinh hiện còn nói về niên đại thành lập không nhất trí. Do đó, niên đại thành lập chậm nhất được suy đoán là vào khoảng thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch. Nhưng theo Ðảo sử Tích Lan thì lần đầu tiên Tam tạng được ghi chép trên lá bối tại Tích Lan là vào khoảng năm 83 trước Tây lịch, dưới triều vua Sinhala Vattagamani Abhaya. Tam tạng này chứa đựng tinh hoa giáo lý của Ðức Phật, gồm có tạng Luật (Vinaya pitaka), tạng Kinh (Sutta pitaka) và tạng Luận (Abhi dhamma pitaka), tất cả 41 tập.

Nội dung

Phần một: Luật tạng (Vinaya pitaka)

Luật tạng nhằm thuyết minh về những giới cấm và những chế định mà đời sống của Tăng già cần phải thực hành. Tương tự như Luật tạng Pàli, Hán dịch Bắc truyền gồm có các bộ sau đây:

1. Tứ Phần luật, 60 quyển; 2. Ngũ Phần luật, 30 quyển; 3. Thập Tụng luật, 60 quyển; 4. Ma Ha Tăng Kỳ luật, 40 quyển; 5. Căn bản Thuyết Nhất thiết hữu bộ Tì nại da, 50 quyển.

Bốn quyển đầu nội dung hoàn toàn tương đồng với Luật Pàli. Ðây chính là 4 bộ Luật mà xưa nay thường được nói đến. Hơn nữa, Luật của Tây Tạng cũng tương đương với tạng luật này. Những bộ luật này đều phát xuất từ một nguồn gốc, nội dung đại thể nhất trí, chỉ vì bộ phái truyền thừa bất đồng mà có sự sai khác ít nhiều. Ðiều đáng chú ý là sự hình thành của Luật Pàli, Tứ Phần, Ngũ Phần là sớm hơn tất cả. Và bộ Luật Pàli đối với các bộ Luật khác được xem là hoàn chỉnh nhất.

Nội dung tổ chức của Luật Pàli gồm 3 bộ phận cấu thành:

1. Kinh Phân biệt; 2. Kiền độ; 3. Phụ tùy.

Những giới bản bằng tiếng Phạn của bộ Luật này đã được Bá Hi Hòa (Paul Pelliot) phát hiện tại Trung Á, nhưng bài tựa và tiêu đề của 4 giới Ba la di đã bị mất.

1. Kinh Phân Biệt (Sutta Vibhanga):

Phần này được chia làm 2 loại như sau:

A. Ðại phân biệt biệt (Mahà Vibhanga) tức là giới bản của Tỳ kheo, gồm có 8 nhóm:

1. Ba la di (Pàràjika): Tương đương với tội cực hình của Tỳ kheo, người vi phạm bị mất tư cách của Tỳ kheo và bị trục xuất ra khỏi Tăng đoàn. Giới này gồm có 4 điều: Theo ý nghĩa được giải thích thì người phạm giới này sẽ bị Tăng đoàn đả kích; còn theo sự giải thích của Bắc truyền Hán dịch thì gọi là Ðoạn đầu (bị chặt đứt đầu); Thối một (bị thoái hóa); Tha thắng (bị kẻ khác đánh bại).

2. Tăng già bà thi sa (Sanghàdisesa): Tội này tuy cũng nặng nhưng kém hơn Ba la di một bậc. Người vi phạm tuy không mất tư cách của Tỳ kheo nhưng phải ở riêng thực hành 6 ngày đêm pháp tùy hỷ (làm cho Tăng chúng hoan hỷ). Sau đó, Tăng sẽ giải tội (xuất tội). Giới này gồm có 13 điều.

3. Bất định pháp (Aniyata): Tôi không thể quyết định được. Khi Tỳ kheo ngồi một mình với phụ nữ ở chỗ khuất hoặc chỗtrống và bị một tín nữ thuần thành phát hiện, báo cho Tăng biết. Tăng sẽ tùy theo sự tường thuật ấy mà kết một trong 3 tội: Ba la di, Tăng tàn, hoặc Ba dật đề.

4. Ni tát kì ba dật đề (Nissaggiya-pàcittiya): Tỳ kheo cất chứa những y phục và vật dụng quá quy định, do đó, phải đem những vật ấy ra xả giữa chúng Tăng hoặc cho người khác, rồi sám hối tội phạm. Gọi là "Xả đoạ", nghĩa là xả bỏ tài vật đã vi phạm và sám hối tội đoạ địa ngục. Giới này gồm có 30 điều .

5. Ba dật đề (Pàcittiya): Cũng như pháp Ni tát kì ba dật đề (xả đoạ) ở trên, nhưng tội này không liên quan đến tài vật mà liên quan đến các vấn đề như vọng ngữ, sát sinh, uống rượu v.v.. và các tội thuộc về phiền não, chấp trước. Người phạm tội này sám hối trước 3 vị Tỳ kheo thanh tịnh. Giới này gồm có 92 điều, Bắc truyền gọi là Ðơn đọa.

6. Ba la đề xá ni (Pàtidesanìya): Nghĩa là hướng đến người khác mà sám hối. Hán dịch là Hối quá, nghĩa là phải đối diện với người khác mà tự bạch sám hối tội phạm. Giới này gồm 4 điều, liên quan đến việc ăn uống.

7. Chúng học (Sekhiya): Nguyên ngữ có nghĩa là học tập, đây không phải là tên tội mà là những việc cần phải học, cho nên còn gọi là Ưng đương học. Giới này thuộc về oai nghi, liên quan đến tác phong của Tỳ kheo khi tiếp xúc với người thế tục. Nếu Tỳ kheo cố ý phạm thì phải sám hối với một Thượng toạ, còn khi vô tình phạm thì sám hối bằng cách tự trách tâm mình. Giới này gồm 75 điều. Bắc truyền đến 100 điều.

8. Diệt tránh (Adhikarana-samatha): Ðây không phải là tên tội mà là những phương thức dùng để giải quyết các sự tranh chấp, xung đột gây nên mối bất hòa giữa Tăng đoàn. Nếu Thượng tọa không giải quyết được những rắc rối xảy ra trong chúng thì phạm tội Ðột cát la (hành vi xấu).

B. Tiểu phân biệt hay Tỳ kheo ni phân biệt:

  1. Ba la di: Gồm 8 giới, nhiều hơn Tỳ kheo 4 giới.
  2. Tăng già bà thi sa: Gồm 17 giới, nhiều hơn Tỳ kheo 4 giới.
  3. Xả đoạ: Gồm 30 giới, giống như Tỳ kheo.
  4. Ba dật đề: Gồm 166 giới, nhiều hơn Tỳ kheo 74 giới.
  5. Ba la đề đề xá ni: Gồm 8 giới, nhiều hơn Tỳ kheo 4 giới.
  6. Chúng học: Gồm 75 giới, giống như Tỳ kheo.
  7. Diệt tránh: Gồm 7 điều, giống như Tỳ kheo.

Tỳ kheo ni không có giới Bất định như Tỳ kheo.

II. Kiền Ðộ (Khandha)

Kiền độ có nghĩa làkhối, nhóm hay chuyên đề, được chia làm 2 phần lớn và nhỏ như sau:

A. Ðại phẩm (Mahà-bhanga)

Ðại phẩm bao gồm 10 Kiền độ, trình bày về những chế độ, quy tắc, nghi thức và nguyên nhân thành lập giới luật.

1. Ðại kiền độ (Mahà-khandha): Nói về nguyên nhân Ðức Phật thành đạo, đến việc Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên xuất gia, cùng những phương thức thọ giới Cụ túc và các quy tắc khác. Kiền độ này gồm có 10 phẩm.

2. Bố tát kiền độ (Uposatha-khandha): Trình bày về thể thức tụng giới của Tăng đoàn vào mỗi nửa tháng.

3. An cư kiền độ (Vassupanayika-khandha): Trình bày về quy chế an cư của Tăng đoàn mỗi năm 3 tháng vào mùa mưa hay mùa hạ.

4. Tự tứ kiền độ (Pavàrana-khandha): Trình bày về cách thức Tự tứ - yêu cầu Tăng đoàn chỉ bảo những sai phạm của mình - sau khi an cư kết thúc.

5. Bì cách kiền độ (Camma-khandha): Ðề cập về cách thức dùng các loại da đối với chúng Tỳ kheo.

6. Dược kiền độ (Bhesajja-khandha): Thuyết minh về các loại thuốc mà các Tỳ kheo được phép sử dụng.

7. Ca thi na kiền độ (Kathina-khandha): Thuyết minh về y công đức, tức y được tưởng thưởng sau muà An cư.

8. Y kiền độ (Civana-khandha): Thuyết minh về vấn đề y phục của Tỳ kheo.

9. Chiêm ba kiền độ (Campà-khandha): Ðề cập đến những việc rắc rối xảy ra tại Chiêm Ba.

10. Kiều thưởng di kiền độ (Kosambi-khandha): Ðề cập đến những sự xung đột xảy ra tại Kiều Thưởng Di.

B. Tiểu phẩm (Culla-vagga)

Sau Ðại phẩm là Tiểu phẩm, tức là những chuyên đề nhỏ hơn, và được chia thành 12 loại, hay 12 Kiền độ.

1. Yết ma kiền độ (Kamma-khandha): Thuyết minh về các phương pháp thực hiện việc yết ma.

2. Biệt trú kiền độ (Pasivàsika-khandha): Thuyết minh thể thức xử phạt Biệt trú đối với Tỳ kheo phạm tội Tăng tàn mà che giấu.

3. Tập kiền độ (Samuccaya-khandha): Thuyết minh về phương thức xử trí đối với Tỳ kheo phạm tội Tăng tàn.

4. Diệt tránh kiền độ (Samatha-khandha): Thuyết minh về phương pháp dập tắt những sự xung đột trong nội bộ Tăng đoàn.

5. Tiểu sự kiền độ (Khuddaka vatthy-khandha): Những quy định về các tư cụ và các việc khác trong nếp sinh hoạt của Tỳ kheo.

6. Ngoạ tọa cụ kiền độ (Sesàsana-khandha): Những quy định về cách thức kiến lập tinh xá và các dụng cụ dùng để ngồi, nằm của các Tỳ kheo.

7. Phá Tăng kiền độ (Sanghabhedaka-khandha): Thuyết minh về nhân duyên xuất gia của các đồng tử dòng họ Thích và sự kiện Ðề Bà Ðạt Ða phá Tăng.

8. Nghi pháp kiền độ (Vatta-khandha): Trình bày về thể thức tập hợp Tăng chúng để giải quyết các công việc.

9. Già thuyết giới kiền độ (Patimakhàthapana-khandha): Thuyết minh về thể thức ngăn cản Tỳ kheo phạm tội tụng giới.

10. Tỳ kheo ni kiền độ (Bikkhuni-khandha): Thuyết minh về những qui định liên quan đến sinh hoạt của Tỳ kheo ni.

11. Ngũ bách (kết tập) kiền độ (Pãncasatika-khandha): Thuyết minh về việc 500 Tỳ kheo kết tập pháp tạng lần đầu tiên tại thành Vương Xá, sau khi Phật vừa nhập diệt.

12. Thất bách (kết tập) kiền độ (Sattasatika-khandha): Sau Phật diệt độ khoảng 100 năm, nhóm Tỳ kheo ở Bạt Kỳ đề xướng 10 điều phi pháp, do đó, 700 Tỳ kheo tập hợp tại Tỳ Xá Li để giải quyết việc ấy, đồng thời kết tập pháp tạng.

III. Phụ Tùy (Parivàra)

Phần này thuộc về phụ lục, dùng để toát yếu những điểm chính của 2 phần trên: Kinh Phân biệt và Kiền độ. Phương thức biên soạn phần lớn dùng lối kệ tụng để cho dễ đọc tụng.

 

Phần hai: Kinh tạng (Sutta-pitaka)

Tạng kinh này được chia thành 5 bộ là: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ. Trường Bộ và Trung Bộ được sắp theo hình thức của kinh, tức kinh dài và kinh trung bình. Tương Ưng Bộ và Tiểu Bộ được sắp theo thể tài của kinh. Còn Tăng Chi Bộ thì được sắp theo pháp số từ ít đến nhiều. Ta có thể trình bày rõ hơn như sau:

I. Kinh Trường Bộ (Digha-nikàya)


Trang [1] 2 3
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI