• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

CÁC BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐẠO 

Ni Sư Ayya Khema 
Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ

 

  blankCó ba cách tiếp cận Pháp.  Một là bằng cách thâu thập kiến thức qua việc học hỏi các kinh tạngcủa đức Phật, cố gắng nhớ chúng càng kỹ càng tốt.  Điều đó rất hữu ích trong việc truyền bá giáo lý qua các bài pháp và sách.

   Cách khác là qua việc cúng dường hương hoa, vật dụng, đọc tụng kinh kệ, và tạo các công đức.  Hành động bố thí, tạo công đức được đức Phật khuyến khích, nhưng Ngài không đặt giá trị nào cho việc có mặt bên cạnh tăng, ni.

  Thuở xưa có một vị tăng quá yêu mến Phật đến nỗi vị ấy bao giờ cũng muốn được nhìn thấy Phật.  Một ngày vị ấy ngã bệnh, nên không được gặp Phật, vị ấy rất đau buồn.  Các tỳ kheo khác thấy vậy hỏi tại sao vị ấy đau khổ quá vậy.  Vị ấy giải thích mình đau khổ vì không được nhìn thấy Phật.  Nghe thế, đức Phật bèn đến thăm vị tăng đang bệnh và nói với người đó: “Ông nhìn thấy gì ở hình tướng gớm ghê này?  Không có gì để thấy ở đó hết.  Ai thấy ta là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy ta”.

   Phương cách tiếp cận Pháp thứ ba chính là sự tu tập, thực hành, là cách mà đức Phậtthường khuyên chúng ta hành theo nhất.  Ngài dạy rằng người thực sự có lòng cung kính, cúng dường là người sống theo giáo lý.  Có một số bước ta cần phải tuân theo khi tiếp cận Pháp qua việc thực hành.  Căn bản là giới hạnh, các công đức đưa đến nghiệp lành.  Không có nền tảng này, chúng ta không đủ vững chãi trong tâm để có thể tự tại, an bình nơi tự thân, là điều cần phải có khi tu thiền.

   Đôi khi điều này thường bị hiểu lầm là ta không nên hành thiền trừ khi ta đã hoàn toàngiữ được các giới và đã luôn có chánh niệm.  Nhưng không phải như thế, vì chính thiền tập giúp ta có được chánh niệm, cho ta tuệ giác về hiệu quả của việc giữ giới.

   Cách thực hành kế tiếp là canh giữ các căn.  Đức Phật thường lặp đi lặp lại điều này để chúng sinh được nhớ.  Không gìn giữ các căn, ta sẽ dễ bị lôi cuốn vào tham ái, khiến tâm bấn loạn, không yên. Vì các căn tiếp xúc với cảnh trần sẽ làm ngòi cho tham sân nổi lên.

   Các căn của ta lúc nào cũng hoạt động đến nỗi ta không để ý đến ảnh hưởng của chúng, coi mọi thứ là bình thường, là phải như thế.  Chúng ta cũng tin những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm và nghĩ là đúng như ta hiểu chúng.  Đó là sai lầm căn bản.  Mỗi người trải nghiệm sự xúc chạm của các giác quan theo tính cách của cá nhân mình.

   Thí dụ, đối với người Á châu thì thức ăn của người Tây phương quá lạt lẻo, bị coi như dành cho trẻ em; ngược lại thức ăn cay của người Á châu lại làm phỏng lưỡi người Tây phương.  Ngay cái cơ bản như thức ăn cũng là một kinh nghiệm hoàn toàn trái ngược đối với nhiều người.  Từ đó ta có thể nghiệm ra rằng tất cả chúng ta sống trong thế giớiriêng của mình.  Người ta tranh cãi quyết liệt với nhau vì họ tin chỉ có thế giới của họ là đúng, đến độ giết nhau vì những khác biệt không thể dung hòa.

   Đức Phật thường được hỏi những câu như: “Thế giới vô hạn hay hữu hạn, thường hằng hay không?”  Đức Phật trả lời: “Thế giới là gì?  Thế giới chính là các căn của ta”.  Khi những câu hỏi như thế được đặt ra, đức Phật thường hướng dẫn người hỏi trở vềvới việc thực hành.  Khi ta biết rằng thế giới ta đang sống bao gồm các căn, ta sẽ có cơ sở để thực hành.  Trái lại việc biết thế giới có thường hằng hay không, thì ích lợi gì cho việc tu tập, thực hành của ta?

   Các căn bao gồm ý, là căn gần như luôn hoạt động.  Ngay giây phút này đây, ta đang sử dụng căn thân, mắt và ý.  Bốn trong sáu căn đang hoạt động.  Vì các căn luôn hoạt động xuyên suốt cuộc sống, ta nghĩ rằng đó là cách sống duy nhất, khiến ta càng muốn tiếp tục theo cách ấy.  Sự ham muốn này tiềm ẩn mối hiểm họa ít người biết đến một cách có ý thức.  Dầu trong tiềm thức tất cả chúng ta đều biết đến nó, vì đó là nơi xuất phát của những nỗi sợ hãi của chúng ta.  Nếu tự quán sát trong chốc lát, ta sẽ nhận ranhiều nỗi sợ hãi ẩn chứa trong ta, dưới nhiều tên khác nhau.  Có người sợ rắn rết, người sợ bóng tối, người sợ máy bay, kẻ sợ người thương yêu chết đi, sợ mất tài sản.  Đủ thứ tên gọi cho cùng chung một nỗi sợ; sợ đánh mất tự ngã, sợ tiếp xúc với những đau đớn, khó chịu, rốt cùng là sợ chết đi.  Dẫu rằng việc mất sự hiện hữu này là kết quả chắc chắncủa sinh.  Tất cả chỉ là vấn đề thời gian.

   Những nỗi sợ hãi này có là do ta bám víu vào các xúc chạm dễ chịu, coi chúng là ta, và tin rằng ngoài chúng không có một thực tại nào khác.  Do đó chúng ta muốn duy trìchúng.  Ngược lại, ta xua đuổi những trải nghiệm khó chịu, mong muốn chúng dừng lại để những thứ dễ chịu lại được diễn ra.  Nếu vấp phải nhiều cảnh trần không vừa ý, ta cho là mình rất khổ.  Hay ta nói, “Tôi đang có vấn đề”.  Đúng hơn tất cả chúng ta đang có cùng một vấn đề, đó là không giác ngộ.  Khi cuối cùng ta nhận thức được rằng các căn trần chỉ thoáng qua và hạnh phúc mà chúng mang đến chỉ tùy thuộc vào ý kiến cá nhân, thì ta sẽ thấy việc buông bỏ chúng khi hành thiền sẽ dễ dàng hơn.

   Việc hành thiền chỉ có thể xảy ra khi các căn, nhất là ý căn, dừng lại.  Thí dụ, nếu ta nghĩ sự xúc chạm của thân trong tư thế ngồi là khó chịu, thì tâm bắt đầu hoạt động theo hướng đó.  Hoặc khi nghĩ nhớ đến những gì ai đó nói hôm qua, tuần trước hay ngay cả mười năm trước, tâm cũng bắt đầu xoay chuyển ngay.  Tất cả là do sự bám chấp của ta vào các căn và coi chúng là ta.

   Từ sự xúc chạm của các giác quan, thọ phát khởi, không có cách gì thay đổi được điều đó, nhưng ta có thể dừng lại, không phản ứng theo chúng và không nghĩ chúng thuộc về ta.  Nếu ta muốn đạt được trạng thái định, ta phải dứt khoát không phản ứng lại với các cảm thọ phát khởi từ sự xúc chạm của các căn.  Chúng ta càng biết thực hành điều này trong cuộc sống hằng ngày, ta càng dễ định tâm trong thiền tập.  Chúng ta không phải tuân theo các phản ứng bản năng của mình.  Sự nhiếp tâm trong thiền định là siêu việt, do đó nó đòi hỏi ta phải có những đặc tính siêu việt.  Bất cứ khi nào nói về Niết bàn, đức Phật luôn bao gồm các trạng thái thiền định như là một phần của việc tu tập để đưa ta đến với sự nhận thức nội tâm về Pháp.

   Việc gìn giữ các căn không chỉ quan trọng trong thiền tập, mà nó cũng quan trọng không kém trong đời sống hằng ngày.  Trong khóa thiền, không có nhiều diễn biến như những lúc bình thường trong cuộc sống, ta dễ kiềm chế tâm khỏi ưa, ghét những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và nghĩ suy.  Để làm được như thế, ta cần thực tập chỉ nghe âm thanh mà không lý giải ta đã nghe điều gì.  Khi tâm bắt đầu kể lể câu chuyệncủa nó về âm thanh, ít nhất ta biết ta phải làm gì.  Đó là đưa âm thanh trở về thực tại, xem nó đối với ta quan trọng như thế nào.

   Đối với căn mắt cũng thế.  Thí dụ, nếu ta nhìn một bụi cây, tâm ta bắt đầu nói: “À, bụi cây quế; không biết ai trồng nó?  Không biết mình sử dụng nó được không?”  Hay bất cứ ý nghĩ gì. Thay vì thế, ta có thể quan sát cái mà ta gọi là ‘bụi cây’ và ghi nhận là mắt ta đang chạm đến một hình thể, do đó có thể tránh cho tâm thêu dệt chuyện này, chuyện kia.  Nếu ta có thể thực hành điều này một hay hai lần trong đời sống hằng ngày, ta cũng có thể sử dụng phương cách đó để kiềm giữ các căn trong thiền tập.  Khi ta có thể kiềm chế bản thân cưỡng lại với những thêu dệt của tâm về các căn trần, ta ít có nguy cơ bị tham sân chế ngự.  Nhờ thế ta dễ đạt được nhiếp tâm trong thiền tập.

   Cuộc sống của chúng ta do các căn điều khiển, nhưng ta không cần phải tiếp tục sống như thế.  Không bắt buộc phải cứ như thế.        Vì dưới sự vận hành của sáu căn, ta khó thể tìm được hạnh phúc bền vững, lâu dài.  Nếu điều đó có thể thực hiện, ta đã sống một cách an lành, hạnh phúc, vì ta luôn tiếp nhận, nạp thọ các căn ngày này qua ngày khác, kiếp sống này qua kiếp sống khác.  Nhưng giải pháp không nằm ở chỗ hoàn thiện các căn trần, dầu nhiều người đã cố gắng làm thế, tốt hơn chính là hoàn thiện các phản ứngcủa ta, để dần dần việc xả bỏ trở thành là cách sống của ta.  Đó là lời hứa khả đức Phậtđã dành cho chúng ta, rằng chúng ta có thể thoát khỏi mọi khổ não, mọi vấn đề, nhưng không phải bằng cách chỉ có những xúc chạm dễ chịu, khả ái, không một phút giây khó chịu nào.  Điều đó sẽ không bao giờ có thể, ngay cả khi đức Phật còn tại thế.  Nhưng ta có thể có những phút giây ta thực sự có thể làm được điều đó.  Giây phút đó cho ta sự trải nghiệm khởi đầu về trạng thái giải thoát, là loại giải thoát duy nhất có thể tìm được trong kiếp con người.  Không có điều gì khác. Bất cứ ai đã hiểu được những lời dạy rất rõ ràng của đức Phật, nhất là các thiền sinh, đều có thể tu tập theo phương cách này.


Trang [1] 2
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI