• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

THERAVÀDA - PHẬT-GIÁO NGUYÊN-THỦY

TỨ THANH TỊNH GIỚI (CATUPÀRISUDDHISÌLA)

VANSARAKKHITA BHIKKHU TỲ-KHƯU HỘ-TÔNG

Mục lục

Phần [01]

BIỆT BIỆT GIẢI THOÁT THU THÚC GIỚI (Pàtimokkhasamvarasila). LỤC CĂN THU THÚC GIỚI (Indriyasamvarasìla). CHÁNH MẠNG THANH TỊNH GIỚI (Àjìvapàrisuddhisìla).

Phần [02]

THỌ VẬT DỤNG GIỚI
QUÁN TƯỞNG VỀ THỌ VẬT DỤNG GIỚI (Paccaya sannissitasìla). CÁCH THỨC QUÁN TƯỞNG PHÉP QUÁN TƯỞNG (Paccayavekkhana).
LÀM CHO GIỚI TRONG SẠCH MƯỜI BỐN ÁC PHÁP CHÍN ÐỨC TÁNH PHƯỚC BÁU CỦA SỰ TRÌ GIỚI

Phần [03]

NHỮNG ÐIỀU CẤM RỜI RẠC GIẢI VỀ CÁCH CHO VÀ THỌ

Phần [04]

GIẢI VỀ PHÉP ÐẦU ÐÀ (DHUTANGAKATHÀ).
ÐẦU ÐÀ CÓ 13 PHÉP GIẢI VỀ CÁCH THỌ TRÌ ÐẦU ÐÀ (Dhutangasamàdàna vidhànàdikathà).

Phần [05]

PHẨM PARIVÀRA (Trích lục trong tạng Luật). GIẢI VỀ KATHINA (Kathina Kathà).

LUẬT XUẤT GIA (Tứ Thanh Tịnh Giới)

TỨ THANH TỊNH GIỚI (Catupàrisuddhisila) là:
1) Biệt biệt giải thoát thu thúc giới (Pàtimokkhasamvarasila). 2) Lục căn thu thúc giới (indriyasamvarasila). 3) Chánh mạng thu thúc giới (àjìvapàrisuddhisila 4) Quán tưởng thọ vật dụng giới (paccayasannisstasila).

-ooOoo-

BIỆT BIỆT GIẢI THOÁT THU THÚC GIỚI (Pàtimokkhasamvara sila).

Trong 4 giới trong sạch, xin giải về: "Biệt biệt giải thoát thu thúc giới" là sự thu thúc theo điều học trong giới bổn trước.Giới mà đức Thế Tôn đã tự thuyết rằng: "Tỳ-khưu trong giáo pháp này, đã thu thúc theo giới bổn, đều đủ cả acàra và gocàra, là người đã thọ trì những điều học, hay có lòng lo sợ tội lỗi, dầu là nhỏ nhen chút ít. Như thế gọi là: "Biệt biệt giải thoát thu thúc giới".Tiếng Pàtimokkha (Tàu âm là Ba-la-đề-mộc-xoa) nghĩa là "Pháp mà người đã thọ trì đúng đắn rồi, nó hằng làm cho người đó được thoát khỏi sự thống khổ, nhứt là khỏi khổ trong bốn đường dữ (cầm thú, atula, ngạ quỉ, địa ngục)".Tất cả điều học mà đức Thế Tôn đã chế định, hiệp lại gọi là Pàtimokkha ấy, có thể làm cho người thọ trì theo được nhiều điều lợi ích cao thượng, như đã có giải.Câu nói "thu thúc" theo Pàtimokkha ấy, là nói được thu thúc điều học mà đức Thế Tôn đã truyền răn để lại.Giải về tiếng àcàra và gocàrà: Phẩm cách người mong được điều hữu ích, phải cố gắng hành theo, gọi là àcàra, trái lại gọi là anàcàra.Àcàra và AnàcàraTrước hết, xin giải về tiếng anàcàra, vì hai pháp ấy có sự tương phản cùng nhau: Anàcàra về đàng dữ, àcàra về đàng lành.Tiếng anàcàra là nói về sự hành ác, do nghiệp thân, nghiệp khẩu, hoặc luôn cả nghiệp thân và khẩu, tức là nói về sự phá giới.Còn sự nuôi mạng không chơn chánh, là nói về Tỳ-khưu nuôi mạng nhờ:
1) Giả làm cách tề chỉnh. 2) Giả làm cách vui vẻ. 3) Nói ướm. 4) Giả bộ dọa hẩm. 5) được nơi đây đem cho nơi kia, được nơi kia đem cho nơi đây. 6) Cho tre. 7) Cho lá cây. 8) Cho bông hoa. 9) Cho trái cây. 10) Cho cây xỉa răng. 11) Cho nước rửa mặt. 12) Cho vật để tắm. 13) Cho vật thoa dồi. 14) Cho đất (của Tăng). 15) Tôn kính kẻ thế. 16) Thật ít, dối nhiều. 17) Giữ giùm con cho người 18) Làm tay sai cho người. 19) Làm thầy thuốc cho người. 20) Làm kẻ đem tin cho người. 21) Chịu cho người sai khiến. 22) đem cơm cho người rồi đi khất thực sau mà ăn. 23) Cho đi, cho lại 24) Xem thiên văn địa lý. 25) Xem ngày tháng, sao hạn cho người. 26) Xem tài tướng và xem thai đàn bà (đẻ trai hay đẻ gái).
Nếu Tỳ-khưu có lòng ham muốn mong được lợi để nuôi mạng theo 26 điều tà mạng trên đây, chẳng được gọi là Tỳ-khưu (trừ ra không có lòng ham muốn thì không kể).Anàcàra chia ra có 2 nghiệp:
- Kàyika: hành tà do nghiệp thân. - Vàcàsika: hành tà do nghiệp khẩu.
Giải: Tỳ-khưu khi vào giữa Giáo hội không lòng cung kính, đứng, ngồi, đụng, chạm, lấn lước vị cao hạ hơn mình; đứng hoặc ngồi trước vị cao hạ, đứng hoặc ngồi cao hơn vị cao hạ, nói múa tay trước mặt vị cao hạ; vị cao hạ đi chân mà mình mang giày hoạc vị cao hạ ở thấp mà mình ở cao; đứng hoặc ngồi không ngay thẳng; không cho phép vị thấp hạ ngồi; để củi trong nhà khói mà không cho vị cao hạ hay; đi tắm không nhường cho vị cao hạ; lúc tắm và khi tắm xong lên, đi vào xóm hoặc ra xóm cũng như thế.Hoặc đi đến nhà nào, vào buồng của người đã khép cửa; có phụ nữ ngồi đâu lại đi vào nơi ấy; vò đầu kẻ trai hoặc gái, các sự hành động như thế gọi là anàcàra; hành tà do nghiệp thân.Có vị Tỳ-khưu khi vào giữa Giáo hội nói những lời vô lễ, không bạch trước với vị cao hạ mà thuyết pháp, hỏi hoặc giảng giới bổn (Pàtimokkha) đứng nói, múa tay; nếu đi vào xóm thấy phụ nữ, trẻ, hoặc già, kêu nói: cô này, có cháo không? có cơm không? có bánh không? có gì ... ta ăn, uống? ... có chi dùng? các cô này! có chi dâng cho ta? v.v...Những lời nói ấy là anàcàra, hành tà do nghiệp khẩu.Còn về àcàra tức là thu thúc theo giới luật trái hẳn với anàcàra như đã giải trên, và cũng chia ra có 2 nghiệp: nghiệp thân và nghiệp khẩu, giống nhau.Người học Phật nên lấy đó làm nơi xu hướng.Tóm lại, tiếng àcàra để nói về phẩm cách vị Tỳ-khưu có lòng tôn kính và nghiêm trì giới luật, có sự hổ thẹn và gớm ghê những điều tội lỗi, ăn mặc theo điều "Ưng học pháp" sekhiyavatta, đi tới, thối lui, xem trước nhắm sau, ngồi, đứng phải phép, đáng cho người kính trọng, mắt ngó xuống, oai nghi chơn chánh, lục căn thanh tịnh, có sự tiết độ, có trí nhớ, có sự biết mình satisampajanna, ít ham muốn, có độ lượng, không hay trà trộn cùng kẻ thế, hoặc thiên vị theo đảng phái, biết đền ơn trả thảo, tôn kính người đáng tôn kính ...Những sự hành động ấy gọi là àcàra, hành đúng luật do nghiệp thân và nghiệp khẩu.Gocàra và Agocàra.Cảnh vật (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) mà lục căn thường xu hướng theo gọi là Gocàra.Giải: lục dục nếu nói cho tột lý thì có cả dữ và lành. Dữ là tư cách làm cho phát sanh tội, nhất là phạm giới. Lành là tư cách làm cho phát sanh phước, nhất là gìn giữ giới luật cho trong sạchGiải về tiếng agocàra, đức Phật có sự thuyết rằng "Tỳ-khưu thường hay thân cận phụ nữ, bán nam, bán nữ, Tỳ-khưu ni, hàng rượu hoặc lưu luyến theo vua chúa, quan lại, người cao sang, phú hộ, kẻ dữ, người không tín ngưỡng tam bảo, hạng khinh rẽ Phật pháp, hay gây gổ cùng tín đồ và tăng chúng. Xu hướng theo những điều ấy gọi là agocàra, trái lại là gocàra".Gocàra chia ra có 3 điều:
1. Upanissayagocàra: Nơi nương nhờ có thể làm cho đức hạnh phát sanh, như thân cận cùng bậc thiện trí thức. 2. Àrakkhagocàra: Cái có thể gìn giữ lục căn thanh tịnh, như trí nhớ. 3. Upanipandhagocàra: phương pháp trau dồi có thể buộc chặt cái tâm, như phép tứ niện xứ.
Giải: những bậc thiện trí thức có đủ 10 lời nói trong sạch [*] hoặc cao minh, hằng tế độ người nương theo Phật pháp, cho được nghe chơn lý chưa từng nghe, nghe được rồi càng thêm ngưỡng mộ, làm cho người hết sự hoài nghi, phát sanh chánh kiến.
[*] 10 lời nói trong sạch (katthàvatthu) là: 1. Appicchakthà: lời nói làm cho phát sanh sự tiết dục. 2. Santutthikathà : lời nói làm cho phát sanh sự biết đủ (tri túc). 3. Pavivekakathà: lời nói làm cho phát sanh sự yên lặng 4. Asamsaggakathà : lời nói không làm cho phát sanh sự quyến luyến 5. Viriyàrambhakathà: lời nói làm cho phát sanh sự tinh tấn 6. Sìlakathà : lời nói làm cho phát sanh sự trong sạch 7. Samàdhikathà: lời nói làm cho phát sanh sự thiền định 8. Pannàkathà: lời nói làm cho phát sanh sự trí tuệ 9. Vimuttikathà: lời nói làm cho phát sanh sự giải thoát 10. Vimuttinanàdassanakathà: lời nói làm cho phát sanh trí tuệ thấy rõ sự giải thoát.
Những bậc có đủ các pháp: tín, giới, văn, thí, tuệ, mà người nào đã nương theo rồi hằng được hưởng điều hạnh phúc, như thế gọi là Upanissayagocàra.Giải về tiếng Àrakkhagocàra đức Phật có tự thuyết rằng: Tỳ-khưu khi đi vào xóm hoặc đi ngoài lộ, mắt thường ngó xuống, xa lối 1 sải, đi đứng cẩn thận, nghiêm trang không xem xe cộ, ngựa, voi, ... nhất là không để ý đến kẻ bộ hành (trai, gái) không ngó phía trên, nhìn phía dưới ... như thế gọi là Àrakkhagocàra.Còn về Upanipandhagocàra, đức Thế Tôn chỉ ngay về pháp tứ niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp) dạy người tu Phật phải dùng pháp ấy phải buộc chặt cái tâm như sau này:Yathàdhambhe nibandheyya vaccham damannaro idha bandheyyevam sakkam cittam satiyàrammane dalham.Nghĩa là: trong vũ trụ này, những người khi tập luyện bò con, cần phải buộc chặt nó đứng yên nơi cây trụ, ví như hành giả, khi tu tâm cũng phải dùng pháp tứ niệm xứ để buộc chặt cái tâm, mới có thể gìn giữ tâm được yên tịnh, đó gọi là Upanipandhagocàra.Ðức Như Lai kể Àcàra và Gocàra vào trong giới bổn vì là: Giới của Tỳ-khưu được trong sạch là nhờ có hành thêm àcàra và gocàra. Nhơn đó, đức Phật mới để pháp àcàra chung với giới bổn.

GIẢI VỀ TIẾNG "LO SỢ NHỎ NHEN CHÚT ÍT"

Trong điều Ưng học pháp sekkhiyavatta và khandhakavatta v.v... điều học nào thuộc về vô ý mà phạm thì cũng bị tội cho nên gọi là tội nhỏ nhen chút ít.Ðối với bậc trí tuệ, dầu là tội nhỏ nhen chút ít, các ngài cũng chẳng dám dễ duôi phạm đến. Sự lo sợ của các ngài làm cho các ngài thấy những tội ấy lớn bằng núi Tu-di, cao đến 84.000 do tuần. Bằng không, với tội nhẹ hơn hết, như tội ác khẩu, các ngài cũng rất lo sợ, xem như đại tội "Bất cộng trụ". Chẳng phải cũng chỉ thế thôi, cho đến những nghiệp nhỏ nhen mà đức Phật nói "Không phải là tội, không phải là sự dễ duôi", các ngài cũng chẳng phạm. Phẩm cách của bậc trí tuệ lo sợ tội lỗi nhỏ nhen chút ít là như thế ấy.Thọ trì một việc nào là phụ thuộc của những điều học "9 điều của đức Phật đã chế định" [*] và gìn giữ hành theo cho đều đủ, như thế gọi là đều đủ theo tất cả điều học.
[*] 9 điều chế định là: 1. mùlapànntti: điều chế đầu tiên trong điều học. 2. anupannatti: điều chế nối tiếp trong điều học đã có cấm nhiều lần . 3. anuppannàpannati: điều chế để ngừa sự xảy đến (nói về 8 trọng pháp của Tỳ-khưu ni). 4. sabbatthapannatti: điều chế đối với tất cả Tỳ-khưu trong xứ. 5. padesapannatti: điều chế đối với tất cả Tỳ-khưu trong xứ trung Ấn độ. 6. sàdhàranappannatti: điều chế chung cho Tỳ-khưu và Tỳ-khưu ni. 7. asàdhàranappannatti: điều chế riêng cho Tỳ-khưu và Tỳ-khưu ni. 8. ekatopannatti: điều chế chỉ đối với Tỳ-khưu hoặc Tỳ-khưu ni. 9. ubhatopannatti: điều chế đối với cả 2 bên.

KẾT LUẬN TRONG BIỆT BIỆT GIẢI THOÁT THU THÚC GIỚI

Thật vậy, "Biệt biệt giải thoát thu thúc giới" mà được trong sạch là nhờ có đức tin . Điều học mà đức Phật đã chế định ấy, vược qua khỏi tuệ lực của chư thinh văn, nên chính mình đức Phật mới có thể chế định được. Nhân đó, các Tỳ-khưu phải thọ trì điều học, chẳng nên tiếc sự sống mà phạm giới, phải hành theo bài kệ sau đây.Pàtimokkham visodhento appevajìvitam jahepannattam lokanàthena na bhinde sìlasam varam.
Trang [1] 2 3 >(5) >> (10)
Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI