• CIMG_1
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_8
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_9
  • CIMG_1
  • CIMG_1
  • CIMG_5
  • CIMG_2
  • CIMG_3
  • CIMG_4
  • CIMG_6
  • CIMG_7
  • CIMG_8
  • CIMG_9
DANH MỤC

Văn hóa Phật giáo – Cho và Nhận

Vào thời xa xưa, con người chưa phát minh ra tiền bạc, mọi sự giao thương chỉ là sự trao đổi giữa vật này và vật kia. Người ta giúp nhau cũng vậy, không tính giờ, tính ngày để trả tiền công, mà là sự giúp đỡ có qua có lại. tình nghĩa cũng do vậy mà hình thành. Khi Đức Phật ra đời ở Ấn độ hơn 2600 năm trước, xã hội Ấn độ đã có tiền vàng, bạc và những thứ trang sức xa xỉ khác dùng để mua bán và đổi chác. Lúc đó cũng đã có nhà băng (ngân hàng) và những người cho vay tiền, vv.

Tuy nhiên, Đức Phật đã cấm chư tăng ni đệ tử ngài tham gia vào việc mua bán đổi chác như người đời có gia đình, có sự nghiệp. Người xuất gia đã ra khỏi gia đình, và sự nghiệp duy nhất của họ là tìm cầu và nỗ lực cho sự giải thoát khỏi mọi đau khổ do chấp thủ, dính mắc  vào các mối quan hệ, vào cảm giác, vào địa vị, lợi đắc và tài sản, vv. Xuất gia là con đường từ bỏ, từ bỏ tất cả những gì làm giàu hay là bành trướng cho bản ngã. Vậy thì việc tu nhân, tích đức hay làm phước thì sao? Chúng ta sẽ trả lời câu hỏi này rõ hơn ở phần sau.

Chư Tăng – Ni đi khất thực và sống tùy thuộc trên sự cúng dường của chư đàn na tín thí – những người tình nguyện hộ độ họ với niềm tin là họ đang làm phước. Trong ngôn ngữ Ấn độ, người tu là Sadhu, nghĩa là người tốt hay người chỉ làm việc tốt, do đó họ là phước điền (ruộng phước) để người có tín tâm gieo hạt giống tốt (phước đức) lên đó, vì chúng sẽ nảy nở thành quả lành. Người tu nhận những thứ hỗ trợ cho đời sống tu tập của họ, vậy họ có cống hiến hay cho đi thứ gì không? Tất nhiên là có. Họ cho sự vô hại (Ahimsa), lòng từ bi không phân biệt sang hèn, xấu đẹp, vv Họ cho trí tuệ bằng cách dạy lại người Phật tử hay chư đàn na tín thí những bài học đạo đức làm người, nhắc nhở họ về trách nhiệm, bổn phận trong gia đình và ngoài xã hội. Họ cho thời gian và sự nhẫn nại lắng nghe những vướng mắc, những khổ đau của người tại gia cư sĩ.  Và điều quan trọng nhất, một người tu hành chân chính cho người khác niềm kính trọng, khơi dậy tín tâm trong sạch nơi người trần tục. Cho họ thấy rằng cuộc đời này còn có những lý tưởng cao đẹp, có những con người có thể sống đời sống thoát tục thanh cao không uế nhiễm, không hơn thua được mất, không tranh giành vật vã với những lo toan muôn thủa của kiếp người.

Ở những đất nước Phật giáo, có rất ít các nhà tâm lý học. Thay vì họ lại có rất nhiều tăng ni – những người làm công việc của các nhà tâm lý mà không tính giờ lấy tiền.

 

Văn Hóa Phât Giáo – Quan niệm về Phước và Tội

Người đi chùa mong cầu điều gì? Phần lớn họ mong tạo phước và tránh tội, vì họ tin vào lý nhân quả: gieo nhân gì thì gặt quả đó. Họ đến chùa để cầu nguyện những điều tốt đẹp an vui và thịnh vượng đến cho bản thân họ, cho gia đình họ, và rộng hơn nữa là cho gia tộc, bạn bè quyến thuộc và cho đất nước hay cho thế giới, cho muôn loài. Rồi một ngày nào đó họ nhận ra rằng chỉ có cầu nguyện không thôi thì không đủ, họ cần phải làm những điều khác nữa để nguyên ước của họ được thành tựu. Họ giác ngộ ra rằng cần phải làm phước, tức tích lũy những công đức để gửi vào “tài khoản ngân hàng phước đức” – là những thứ đã, đang và sẽ hỗ trợ cho họ trong cuộc đời nhiều đổi thay rủi ro này. Họ bắt đầu biết bố thí- cúng dường, phục vụ như làm công quả. Và rồi họ cũng học để giữ giới, từ ít đến nhiều, để tránh tội và tạo thêm nền tảng vững chắc để xây dựng nhân cách hiền thiện, vô hại, và khả kính. Họ cũng học được rằng, phước lớn hơn nữa là không còn tạo tác lăng xăng, mà cần tu để an tĩnh, học buông xả và phát triển định tâm làm nền tảng cho trí tuệ sinh khởi. Nhất là tuệ giác để có thể cư xử đúng đắn, hài hòa trong mọi tình huống hay hoàn cảnh sống.

Có một diễn viên điện ảnh khá nổi tiếng ở Đức vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ trước đến nước Nhật theo đoàn làm phim của cô cho một bộ phim về thế chiến thứ hai. Ở đất nước mặt trời mọc này, cô diễn viên trẻ tuổi và xinh đẹp này đã bị hấp đẫn mãnh liệt bởi văn hóa Phật giáo và các ngôi chùa, thiền viện ở đây. Sau khi bộ phim kết thúc, cô quyết định ở lại lâu hơn, vào một thiền viện và bắt đầu học thiền. Như phần lớn những người Tây phương khác khi đến với Phật giáo, cô đến với thiền trước. trong một tháng đó, cô đã có những trải nghiệm thú vị về thiền và đời sống tu viện. khi trở lại châu Âu, cô vẫn duy trì thiền tập mỗi ngày, và cảm thấy mình rất may mắn khi biết đến Phật giáo và Thiền – những thứ “phụ kiện” làm cho đời sống của cô thanh thản và tươi đẹp, hấp dẫn hơn.

Rồi một ngày cô đến Thái lan để du lịch và cũng là để tìm hiểu thêm về Phật giáo và ảnh hưởng của nó tại xứ sở này. Ở đây, sau khi đã đi chơi ở những địa danh nổi tiếng ở xứ chùa vàng tháp bạc này, cô quyết định chọn một ngôi chùa tu thiền ở miền Chiêng mai để pháp triển khả năng thiền định của mình. Trong những ngày tu tập ở đây cô đã rất ngạc nhiên trước tấm lòng phục vụ cúng dường của các thí chủ người Thái. Cô đến từ một văn hóa mà mọi thứ đều được đo đếm bằng tiền, chi li và sít sao. Nhưng ở đây cô nhận được mọi thứ cô cần cho đời sống tu học mà không phải trả gì cả! Vị trưởng lão thiền sư dạy cô hoàn toàn miễn phí, phòng cô ở miễn phí, thức ăn, nước uống hàng ngày miễn phí, thuốc men trị bệnh đơn giản khi thiền sinh cần, miễn phí.

Cô rất sửng sốt trước sự hảo tâm của chư đàn na tín thí đến cúng dường và hỗ trợ người tu hành ở ngôi chùa này. Điều này hoàn toàn khác xa với môi trường sống và làm việc của cô trước đây, nơi sự cạnh tranh, bon chen hơn thua đẳng cấp rất phổ biến. Điều đặc biệt làm cô ngạc nhiên là thái độ vui vẻ sẵn sàng phục vụ miễn phí của những người Phật tử nhiều đức tin này. Họ cho đi mà rất vui, rất tự nguyện thoải mái mà cô không thể tìm thấy thái độ như vậy trong văn hóa mua bán cạnh tranh. Cô bắt đầu tự hỏi: điều gì khiến con người hạnh phúc thực sự? Tiền bạc, địa vị hay tấm lòng thơm thảo làm phước mà không mong cầu đền đáp?

Trước đây cô học thiền, tu tập thiền định để có đời sống tâm hồn ổn định và thanh thản hơn trong môi trường làm việc nhiều cạnh tranh của mình. Nhưng cô chưa học ‘cho đi’ với tâm buông xả không mong cầu, cô vốn là một người khá keo kiệt, chi tiêu những đồng tiền kiếm được một cách rất chi li tính toán,… Nay cô bỗng giật mình nhìn lại: những gì cô đã làm hầu hết có động cơ là cho cô, vì sự an vui hạnh phúc của riêng mình chớ không phải vì người khác. Cô nhận ra mình không có được cái vui vẻ vô tư như những người tín thí mà cô gặp ở ngôi chùa này… Và đã cô giác ngộ ra rằng cho đi, phục vụ vì hạnh phúc an vui của người khác quả thật đem lại niềm hạnh phúc rất thanh cao mà những người tính toán bủn xỉn không bao giờ có được.

 

Vietnamese
English
LỜI HAY Ý ĐẸP

"Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu." -- Trung A Hàm

TÌM KIẾM
KẾT NỐI